Ngày 8/5, Bộ Tư pháp đăng tải hồ sơ thẩm định dự thảo tờ
trình về việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định về thi hành án đối với
pháp nhân thương mại. Dự thảo do Bộ Công an xây dựng.
Chế định pháp nhân thương mại phạm tội lần đầu tiên được quy
định trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam tại Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đến năm 2025, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 tiếp tục quy
định về thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Vì vậy, Bộ Công an chủ trì
xây dựng Nghị định quy định về thi hành án đối với pháp nhân thương mại để quy
định chi tiết, cụ thể các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025.
Dự thảo gồm 6 chương, 63 điều, trong đó quy định về các biện
pháp cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Ngoài ra, nghị định
quy định về các trường hợp chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp
pháp nhân thương mại tổ chức lại (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập).
Theo điều 17 nghị định, các biện pháp cưỡng chế thi hành án
đối với pháp nhân thương mại gồm phong tỏa tài khoản; kê biên tài sản…
Đáng chú ý, đối với biện pháp kê biên tài sản, điều 34 quy định
“kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp”.
Theo đó, trường hợp pháp nhân thương mại không còn tài sản
nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, cơ quan thi hành án
hình sự có quyền kê biên, xử lý tài sản của pháp nhân thương mại đang cầm cố,
thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng
chế thi hành án.
Bên cạnh đó, nghị định quy định về các loại tài sản không được
kê biên; kê biên vốn góp, phương tiện giao thông, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử
dụng đất…
Liên quan đến điều 34, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị bỏ quy định
về biện pháp kê biên tài sản của pháp nhân thương mại đang được cầm cố, thế chấp
và bổ sung tài sản đang cầm cố thế chấp thuộc trường hợp không kê biên.
Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc giao dịch bảo đảm
là để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ đã được xác định tại thời điểm giao kết hợp
đồng. Trong khi đó, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự phát
sinh trên cơ sở quyết định cưỡng chế thi hành án của cơ quan thi hành án
hình sự, tức là phát sinh sau thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm.
Như vậy, việc cho phép kê biên tài sản được cầm cố, thế chấp
để cưỡng chế thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại sẽ làm vô hiệu
hóa hiệu lực của pháp luật về giao dịch bảo đảm, không tạo ra một cơ chế thích
đáng để bảo vệ quyền chủ nợ.
Ngoài ra, Điều 307 Bộ Luật dân sự, Điều 199 Luật Các Tổ chức
tín dụng ghi nhận quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm khi xử lý tài sản
bảo đảm. Việc kê biên tài sản bảo đảm để thi hành án không đảm bảo được quyền
ưu tiên của bên nhận bảo đảm đã được ghi nhận tại các luật nêu trên.
Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, quá trình xây dựng Nghị định về
cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trên cơ sở tiếp thu ý
kiến của các cơ quan liên quan, Nghị định 296/2025/NĐ-CP được ban hành không
quy định về việc kê biên đối với tài sản đang được cầm cố, thế chấp.
Trước ý kiến của Ngân hàng Nhà nước, hiện cơ quan chủ trì soạn
thảo đề nghị giữ nguyên quy định này.
Điều 35 dự thảo cũng quy định “kê biên tài sản của pháp nhân thương mại
đang do người thứ ba giữ”.
Cụ thể, trường hợp xác định người thứ ba đang giữ tài sản của
pháp nhân thương mại, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết
định khác thì cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định kê biên
tài sản đó; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì cơ quan
thi hành án hình sự có thẩm quyền cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi
hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được
tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.