
Ngày 8/8, trong khuôn khổ chuyến công tác tại Hàn Quốc, Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam Trần Đức Thắng đã làm việc với Bộ trưởng Cơ quan Lâm nghiệp Hàn Quốc (KFS) Lim Sang-seop, nhằm trao đổi các định hướng hợp tác trong lĩnh vực lâm nghiệp giai đoạn tới.
Quyền Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh, quan hệ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Cơ quan Lâm nghiệp Hàn Quốc không chỉ là hợp tác công việc, mà còn là mối quan hệ gắn bó, chân thành, thể hiện qua những hỗ trợ thiết thực và hiệu quả trong triển khai các dự án, đặc biệt là sau khi hai bên ký Bản ghi nhớ hợp tác tháng 6/2023. Ông Thắng mong muốn cuộc gặp lần này sẽ mở ra bước phát triển mới, gắn kết hơn nữa quan hệ giữa hai Bộ, thúc đẩy hợp tác lâm nghiệp giữa hai nước.
Quyền Bộ trưởng Trần Đức Thắng đánh giá cao các chương trình hợp tác mà KFS đã hỗ trợ và cam kết thực hiện tốt nhất các chương trình, dự án đó. Việt Nam và Hàn Quốc là đối tác chiến lược toàn diện, có nhiều nét tương đồng, trong đó Hàn Quốc là quốc gia phát triển lâm nghiệp điển hình, với nhiều kinh nghiệm quý trong phát triển rừng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Việt Nam mong muốn học hỏi những kinh nghiệm này để nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, vừa cải thiện sinh kế cho khoảng 5 triệu lao động sống phụ thuộc vào rừng.
Đồng tình với quan điểm của Việt Nam, Bộ trưởng Cơ quan Lâm nghiệp Hàn Quốc, Lim Sang-seop mong muốn Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục quan tâm chỉ đạo để các dự án chung đạt hiệu quả cao. Ông nhấn mạnh, chương trình REDD , dự án hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc nhằm giảm phát thải khí nhà kính là một khởi đầu quan trọng, và mong phía Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để dự án hoàn thành đúng tiến độ.
Theo Bộ trưởng Lim Sang-seop, để tăng cường hợp tác, hai bên nên tổ chức họp định kỳ, trao đổi thông tin thường xuyên. Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phục hồi rừng sau chiến tranh, Bộ trưởng Lim Sang-seop cho biết phục hồi rừng ngập mặn là hướng đi hiệu quả, cần kết hợp trồng rừng với phát triển nuôi trồng thủy sản và hỗ trợ sinh kế cho người dân. Ngoài ra, Việt Nam có thể khai thác lợi thế tài nguyên, phát triển du lịch sinh thái, vừa bảo tồn rừng vừa nâng cao thu nhập.
Phía KFS cũng đề xuất mở rộng hợp tác trong phục hồi rừng ngập mặn, tham gia tích cực sáng kiến AFOCO (Tổ chức Hợp tác rừng Châu Á), thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp. Hiện Hàn Quốc có 5 vườn sinh thái và mong muốn hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực này, đồng thời đề nghị Việt Nam cung cấp giống cây rừng ngập mặn để trồng thử nghiệm. Ông cũng giới thiệu kinh nghiệm sử dụng vệ tinh nhân tạo giám sát rừng từ năm 2016, nếu áp dụng thành công tại Việt Nam sẽ giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả quản lý.
Hoan nghênh các đề xuất này, Quyền Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ hai thế giới với kim ngạch 17-18 tỷ USD/năm, luôn đảm bảo nguồn gỗ hợp pháp nhờ ký kết các biên bản ghi nhớ (MoU) với những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản. Việt Nam mong muốn KFS tiếp tục phối hợp chặt chẽ, đặc biệt trong chia sẻ dữ liệu vệ tinh, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý rừng, phát triển nhân lực, và hợp tác về tín chỉ carbon rừng.
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.