
Trước áp lực tăng trưởng nhu cầu điện năng cùng yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính, hệ thống điện Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc. Theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030, năng lượng tái tạo chủ yếu là điện gió và điện mặt trời sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn điện.
Tuy nhiên, đây đều là những nguồn năng lượng phụ thuộc điều kiện tự nhiên, có tính biến thiên cao. Khi thời tiết thay đổi đột ngột, công suất phát điện có thể giảm rất nhanh chỉ trong thời gian ngắn, tạo áp lực lớn đối với điều độ hệ thống điện quốc gia.
ĐẦU TƯ THUỶ ĐIỆN MỞ RỘNG TRONG QUÁ TRÌNH DỊCH CHUYỂN NĂNG LƯỢNG
Trong bối cảnh đó, các nguồn điện có khả năng điều chỉnh linh hoạt như thủy điện được xem là “bộ cân bằng” đặc biệt quan trọng. So với nhiệt điện than hay các nguồn điện nền khác, thủy điện có thể khởi động nhanh, thay đổi công suất linh hoạt trong thời gian ngắn để bù đắp thiếu hụt từ các nguồn năng lượng tái tạo.
Đây cũng là lý do việc đầu tư mở rộng các nhà máy thủy điện hiện có đang được xem là giải pháp chiến lược trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng hiện nay.
Khác với xây dựng mới các công trình thủy điện lớn, việc mở rộng nhà máy thủy điện cho phép tận dụng tối đa hạ tầng sẵn có như hồ chứa, đập, đường hầm dẫn nước và hệ thống truyền tải. Nhờ đó, tiết kiệm đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng, tái định cư và xây dựng phụ trợ.
Theo các chuyên gia, suất đầu tư cho phần công suất tăng thêm thường thấp hơn nhiều so với dự án mới cùng quy mô. Quan trọng hơn, mô hình này giúp giảm thiểu tối đa tác động môi trường và xã hội, không cần tạo hồ chứa mới hay di dời dân cư quy mô lớn.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, xu hướng “tối ưu hóa tài sản năng lượng hiện có” đang được nhiều quốc gia ưu tiên, vì vừa đảm bảo sản lượng điện, vừa bảo vệ hệ sinh thái và an ninh nguồn nước và giảm phát thải khí nhà kính.
Ngoài lợi ích kinh tế - môi trường, thủy điện mở rộng còn tăng cường khả năng vận hành hệ thống điện quốc gia như bổ sung công suất giờ cao điểm, hỗ trợ điều tần - điều áp và dự phòng cho nguồn tái tạo biến động. Đặc biệt, việc nâng cao khả năng điều tiết tại Tây Nguyên và miền Trung góp phần giảm mất cân đối cung - cầu điện giữa các vùng, giảm áp lực cho truyền tải Bắc – Nam.
Và các chuyên gia thuỷ điện cũng cho biết hiệu quả của mô hình thuỷ điện mở rộng phụ thuộc rất lớn vào quản lý tài nguyên nước tổng hợp, bảo vệ rừng đầu nguồn và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là El Nino và thời tiết cực đoan.
Do đó, việc mở rộng thủy điện cần được triển khai trong chiến lược năng lượng xanh tổng thể, kết hợp hài hòa với điện gió, điện mặt trời, lưu trữ năng lượng và nâng cấp hạ tầng truyền tải. Theo đó, dự án mở rộng thủy điện Ialy hoàn thành đưa vào sử dụng thêm một minh chứng cho thấy vai trò của thuỷ điện mở rộng vì không chỉ bổ sung nguồn điện linh hoạt cho hệ thống mà còn giúp tối ưu hóa hạ tầng sẵn có, giảm áp lực đầu tư mới và hạn chế tác động môi trường.
IALY MỞ RỘNG VÀ BÀI TOÁN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XANH QUỐC TẾ
Nhà máy Thủy điện Ialy giữ vai trò quan trọng trong cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia trong nhiều năm qua. Năm 2021, thay vì xây dựng hạ tầng mới nhà máy Ialy đã lựa chọn giải pháp thuỷ điện mở rộng tức là tận dụng tối đa giá trị của hạ tầng cũ để nâng cao hiệu suất khai thác tài nguyên nước.
Nhà máy đã lắp đặt bổ sung hai tổ máy với tổng công suất 360 MW, nâng quy mô toàn công trình lên 1.080 MW. Sự nâng cấp này đưa Ialy trở thành một trong bốn nhà máy thủy điện lớn nhất cả nước, đóng góp thêm sản lượng phát điện trung bình khoảng 233 triệu kWh/năm ngay từ khi đi vào vận hành vào cuối năm 2024. Từ dự án Thuỷ điện mở rộng Ialy có thể rút ra các bài học đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, Dự án thuỷ điện mở rộng Ialy cho thấy chi phí đầu tư giảm rất lớn đồng thời hạn chế tối đa tác động đến môi trường và đời sống người dân khu vực dự án vì toàn bộ phần mở rộng được triển khai trên cơ sở tận dụng hệ thống hồ chứa, tuyến năng lượng và hạ tầng truyền tải sẵn có.
Ngoài ra, ông Trần Thái Bình, Phó giám đốc Công ty Thủy điện Ialy còn cho biết thuỷ điện mở rộng có đặc tính khởi động nhanh, nên cho phép hệ thống phản ứng tức thời trước các biến động phụ tải, đặc biệt là trong các khung giờ cao điểm. Đây là giải pháp trọng yếu để duy trì sự cân bằng khi tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo biến thiên vào lưới điện, đáp ứng nhu cầu năng lượng phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, việc mở rộng Ialy đã giúp giảm tải cho các tổ máy hiện có, qua đó kéo dài tuổi thọ thiết bị, nâng cao hiệu quả vận hành và tối ưu chi phí bảo trì trong dài hạn. Lợi thế này càng trở nên rõ nét khi dự án tận dụng được trọn vẹn bộ máy quản lý, lực lượng chuyên gia cùng hạ tầng sẵn có của đơn vị vận hành, từ đó tối ưu hóa năng suất lao động và tạo ra giá trị bền vững cho dự án mới.
Thứ ba, điểm khá nổi bật của dự án Ialy là đã chứng minh rõ hiệu quả của cơ chế hợp tác tài chính xanh với các đối tác châu Âu trong lộ trình chuyển dịch năng lượng bền vững.
Dự án nhận được nguồn hỗ trợ không hoàn lại tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực từ Liên minh châu Âu (EU) cùng khoản vay ưu đãi dài hạn trị giá 74,7 triệu Euro từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD). Các đối tác quốc tế không những hỗ trợ tài chính mà còn đồng hành trong quá trình nâng cao năng lực quản trị, chuyển giao tiêu chuẩn an toàn – môi trường và chuẩn hóa hệ thống HSE(Sức khỏe - An toàn - Môi trường) góp phần chuẩn hóa quy trình vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ tư, là về hiệu quả môi trường, phần công suất bổ sung từ Ialy mở rộng được đánh giá góp phần giảm đáng kể phát thải khí nhà kính khi thay thế một phần nguồn điện hóa thạch. Ước tính, lượng điện sạch tăng thêm từ dự án có thể giúp giảm từ 100.000 – 200.000 tấn CO₂ mỗi năm, tùy theo cơ cấu nguồn điện thay thế trong hệ thống.
Thứ năm, bài học từ việc kết hợp giữa nội lực ngành điện với Liên minh châu Âu là Đối tác Chiến lược toàn diện giúp Việt Nam khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, góp phần xây dựng một hệ thống năng lượng linh hoạt, sẵn sàng cho các mục tiêu phát triển xanh và hội nhập toàn cầu.
Thành công của Ialy mở rộng không chỉ mang ý nghĩa riêng với ngành điện mà còn cho thấy một hướng tiếp cận mới trong phát triển năng lượng tại Việt Nam: thay vì tiếp tục mở rộng theo chiều rộng bằng các công trình mới quy mô lớn, việc tối ưu hóa các tài sản năng lượng hiện hữu có thể mang lại hiệu quả kinh tế, môi trường và vận hành cao hơn trong nhiều trường hợp.




Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuyển sang giai đoạn triển khai cụ thể, với tiến độ rõ ràng cho từng nhiệm vụ, nhằm đảm bảo tốt nhất cho APEC 2027...
Với mức tăng 9,95% trong quý 3/2026, tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%, tiến gần đến mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm…
Đổi mới thể chế đang chuyển trọng tâm từ quản lý sang kiến tạo phát triển, bước đầu tạo chuyển biến về môi trường kinh doanh, năng lực địa phương và sức bật của doanh nghiệp, nhưng đồng thời cho thấy những khoảng cách cần tiếp tục được tháo gỡ giữa chính sách và thực thi.
Bên cạnh việc thống nhất vị trí, vai trò chiến lược, tăng cường đầu tư hạ tầng, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Bộ Chính trị cũng yêu cầu hoàn thiện pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước và xây dựng mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp…
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Thay vì đốt bỏ gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, những phế phụ phẩm từ lâm nghiệp được tận dụng để trồng nấm hữu cơ theo chuỗi tuần hoàn. Đó chính là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững ở xã Hương Cần, tỉnh Phú Thọ.
Thay vì đốt bỏ gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, những phế phụ phẩm từ lâm nghiệp được tận dụng để trồng nấm hữu cơ theo chuỗi tuần hoàn. Đó chính là mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững ở xã Hương Cần, tỉnh Phú Thọ.