Trần Phương – Một hình tượng sắc nét trong tâm thức nhiều người
Đặng Phong (*)
25/10/2025, 12:53
Mỗi lần suy nghĩ về Trần Phương, tôi cứ tự nhiên hình dung: trong khung trời của khoa học kinh tế ở Việt Nam thập kỷ 1960-1970, một khung trời cũng không lấy gì làm cao rộng và quang đãng lắm, Trần Phương là một ngôi sao.
GS. Trần Phương.
Mỗi lần
suy nghĩ về Trần Phương, tôi cứ tự nhiên hình dung: trong khung trời của khoa học
kinh tế ở Việt Nam thập kỷ 1960-1970, một khung trời cũng không lấy gì làm cao
rộng và quang đãng lắm, Trần Phương là một ngôi sao.
Xin không
nói về ngôi sao theo ý nghĩa như các vì tinh tú mà người ta thường ví với các
vĩ nhân. Ngôi sao ở đây là theo ý nghĩa thông thường, để nói về những con người
nổi bật trong lĩnh vực của mình, cũng như ta nói về những ngôi sao trong điện ảnh,
âm nhạc, đá bóng…
Quả thật rằng
những ai đã từng sống và làm việc trong Viện Kinh tế học và cả trong Ủy ban
Khoa học Xã hội những năm đó, đều có ấn tượng sâu sắc về con người Trần Phương:
Sắc sảo, ham mê, dấn thân, thẳng thắn, tài hoa và có một sức thu hút rất mạnh cả
về trí tuệ lẫn phong cách.
Trần
Phương tên thật là Vũ Văn Dung, sinh năm 1927, con một nhà nho nghèo ở một làng
quê huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông đậu tiểu học khi chưa đầy 12 tuổi, nhưng
sau đó phải ở nhà. Thời đó, chỉ ở Hà Nội mới có trường trung học. Nhà nghèo, lấy
tiền ở đâu mà ra Hà Nội ăn học.
Rồi bỗng
có người mách bảo: muốn ra Hà Nội học, chỉ có một cách là thi vào trường Bưởi,
mà phải giành lấy vị trí đầu bảng để được Nhà nước bảo hộ cấp học bổng toàn phần,
nghĩa là được ăn ở nội trú không mất tiền. Vũ Văn Dung đã đạt được mục tiêu đó
lúc 14 tuổi.
Rồi học ở
trường Bưởi 2 năm, khi mới 16 tuổi, ông đã sớm tham gia hoạt động cách mạng. Bị
mật thám truy nã, ông phải tạm lánh về vùng quê để tiếp tục hoạt động. Hai năm
sau đó, năm 1945, ở tuổi 18, ông trở thành một trong những người lãnh đạo cuộc
khởi nghĩa ở huyện tại quê hương ông.
Gần như suốt
cuộc kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở vùng địch hậu đồng bằng sông Hồng,
đảm nhiệm nhiều trọng trách khi còn rất trẻ: Bí thư Huyện ủy năm 19 tuổi, Phó
Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên năm 21 tuổi, Giám đốc Sở Thông tin Liên khu III và kiêm
Chủ nhiệm báo Cứu quốc Liên khu III năm 22 tuổi, Khu ủy viên Khu Tả ngạn năm 27
tuổi. Thời ấy ai đi làm cách mạng cũng phải dùng bí danh để tránh con mắt của mật
thám Pháp và Nhật. Cái tên Trần Phương xuất hiện từ đó, cũng là bí danh cuối
cùng của ông trong thời gian hoạt động ở địch hậu và được giữ lại cho đến tận
bây giờ.
Sau chiến
thắng Điện Biên Phủ, ông được Trung ương cử sang Trung Quốc để đào tạo về lý luận
ở Học viện Mác - Lênin. Khi trở về, ông đã từng có ý định làm nghề viết văn;
nhưng cũng như phần lớn cán bộ cách mạng thời đó, tổ chức của Đảng “đặt đâu ngồi
đấy”.
Ông được
Trung ương cử về Trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Lúc đầu ông là trợ lý Khoa Kinh tế,
sau đó là Chủ nhiệm Khoa Kinh tế. Còn trẻ, thông minh, sắc sảo, hiếu học, chẳng
bao lâu, ông đã nắm vững những tri thức cơ bản của kinh tế học Mác và trở thành
một trong những người nhuần nhuyễn nhất bộ Tư bản. Sự nghiệp kinh tế học của
ông bắt đầu từ đó.
Năm 1959,
ông được cử về Ủy ban Khoa học Nhà nước với cương vị Phó Viện trưởng Viện Kinh
tế học, cùng ông Bùi Công Trừng xây dựng viện này. Đến giữa thập kỷ 1960 ông là
Viện trưởng của Viện.
Trong một
bài viết nhân kỷ niệm 35 năm Viện Kinh tế học, ông kể lại: “Tôi chỉ vừa mới rời
khỏi ghế học trò về kinh tế. Truyền thụ lý thuyết thì tôi làm được, còn nghiên
cứu kinh tế Việt Nam thì tôi chưa làm bao giờ. Ngay Viện Kinh tế làm gì tôi
cũng chưa hình dung nổi… Ngay bản thân mình, sau 9 năm đánh giặc, cũng chỉ học
lý thuyết kinh tế trên sách vở. Đã ai biết nghiên cứu ra sao? Đã ai biết kinh tế
Việt Nam như thế nào? Những câu hỏi ấy không những lặp đi lặp lại trong những
ngày đầu xây dựng Viện, mà còn theo đuổi tôi nhiều năm sau này nữa!”.
Tuy mới
vào nghề, như ông nói, còn mò mẫm tìm lối đi cho Viện và cho mình, nhưng với một
trí nhớ và một sức đọc tuyệt vời của tuổi “ngoại tam thập”, chỉ mấy năm sau,
ông đã vượt trội lên như một trong những chuyên gia kinh tế xuất sắc lúc đó
(trong cái bầu trời lúc đó).
Khoảng giữa
thập kỷ 1960, ông đã sớm có nhiều ý kiến mới, sắc sảo về kinh tế. Đồng thời ông
cũng đủ nhậy bén để chọn những cách, những địa chỉ và những thời điểm thể hiện
những quan điểm của mình. Chính nhờ đó, những ý kiến của ông không bị bỏ qua,
ngược lại, hầu hết đã được ghi nhận, mặc dầu trong khá nhiều trường hợp nó khá
gai góc, trái ngược với suy nghĩ phổ biến đương thời.
Giới kinh
tế học thời đó có một đặc điểm khác với nhiều ngành khoa học khác ở một điểm:
Các ngành khoa học khác thì chỉ cần nghiên cứu, phát minh, viết sách, giảng dạy,…
tức là đi vào nghiệp vụ chuyên môn, mà thời đó chúng tôi gọi là “việc đạo”. Còn
giới kinh tế học thì ngoài “việc đạo” ra, còn có “việc đời”, tức là phải tham
gia vào chính đời sống kinh tế. Điều này thì Các Mác cũng đã từng nói: “Kinh tế
học không có một phòng thí nghiệm, mà phải ứng dụng ngay vào xã hội”. Cuộc đời
và sự nghiệp của Trần Phương cũng có cả “việc đạo” và cả “việc đời”.
Về “việc đạo”,
giới kinh tế học thời đó còn có một đặc điểm nữa khác với nhiều ngành khoa học
khác: Phần sản phẩm tinh túy và công phu nhất của nó lại không phải là những
công trình xuất bản công khai, mà là những kiến nghị, những đề án, những báo
cáo... Những thứ đó không thể in và phát hành rộng rãi trong xã hội, mà chỉ có
thể trực tiếp gửi cho những cơ quan cao nhất của Đảng và Chính phủ.
Bởi vậy,
Trần Phương cũng giống như nhiều nhà kinh tế học cỡ lớn thời đó, như Bùi Công
Trừng, Đoàn Trọng Truyến… không viết nhiều sách. Điều này ông cũng đã từng giải
thích cho những thế hệ sau ông: "Thời đó những ý kiến hay nhất của bọn
mình thì lại không thể công bố được. Những ý tưởng kinh tế quan trọng nhất chỉ
có thể có vài người đọc thôi. Nhưng vài người đó lại quyết định cả vận mệnh của
nền kinh tế quốc gia. Do đó bọn mình không dành nhiều thì giờ để viết sách. Thì
giờ nhiều nhất vẫn là phải dành để xử lý những vấn đề mà Trung ương, Bộ Chính
trị và Chính phủ đặt ra...".
Cũng vì vậy,
nếu nói đến những tác phẩm để ghi vào lý lịch khoa học của Trần Phương thì
không nhiều: mấy cuốn sách và vài chục bài luận văn. Ông có 4 cuốn sách đã xuất
bản, mà cũng không mấy người biết đến: "Chủ nghĩa tư bản ở nông thôn Việt
Nam sau cải cách ruộng đất", "Kinh tế học phổ thông" (2 tập),
"Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam", "Kinh tế Bungari từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn XHCN".
Viết một
công trình khoa học kinh tế để công bố, nhất là nói đến những vấn đề đường lối,
quan điểm chiến lược, không dễ dàng chút nào. Thường phải gọt đẽo kỹ càng, nhiều
khi vì kỹ quá lại thành ra không còn bao nhiêu cái sắc nét nữa. Cũng do đó, những
cái thú vị nhất lại là những cái "lưu hành nội bộ".
Phần
"Lưu hành nội bộ" sáng giá nhất trong cuộc đời khoa học của Trần
Phương có lẽ là những đóng góp trực tiếp cho Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Từ năm
1965 trở đi, ông bắt đầu được Tổng Bí thư chú ý vì những ý kiến và những bài
nghiên cứu của ông. Sau đó, ông trở thành một trong những trợ lý gần gũi nhất của
Tổng Bí thư. Trên cương vị đó, ông đã có những ảnh hưởng đáng kể đến những suy
nghĩ và quyết định của Tổng Bí thư trong lĩnh vực kinh tế.
Nói rằng
những ý kiến của Trần Phương có một phần ảnh hưởng đáng kể tới những suy nghĩ của
Tổng Bí thư, cũng không có nghĩa rằng Trần Phương là cái bóng của Tổng Bí thư.
Bằng những hiểu biết và những thực tế mà ông quan sát được, ông đã can ngăn nhiều
ý tưởng, góp phần hoàn thiện và có phần ảnh hưởng đến những suy nghĩ của Tổng
Bí thư. Tổng Bí thư trọng dụng ông vì lý do đó và có "sự gắn bó"
trong suốt 20 năm, cho tận tới khi Tổng Bí thư qua đời (1986).
Về “việc đời”,
tức những đóng góp cho đời sống kinh tế, thì có thể ghi nhận rằng Trần Phương
đã có một số tác động tích cực cho những chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, đặc biệt
là trong những bước khởi đầu gian nan nhất.
Nếu ví
công cuộc chuyển đổi kinh tế của Việt Nam như việc phá một căn nhà cũ để xây một
ngôi nhà mới, thì trong sự nghiệp lớn lao này, Trần Phương có đóng góp nhiều
viên gạch (và trước đó nữa thì khá nhiều nhát búa). Những việc đó đến nay không
mấy người biết rõ. Vì thế không phải không có những cách nghĩ chưa trọn vẹn về
ông. Nhưng nhìn nhận về sự nghiệp tham chính của ông không phải là việc của bài
này. Đó sẽ là chuyện của những cuốn sử.
Năm 1976,
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Trần Phương trúng cử Ban Chấp hành Trung
ương. Đến năm 1977, Trần Phương được điều ra khỏi "nghề" nghiên cứu
khoa học kinh tế để đi vào điều hành kinh tế.
Trước hết,
ông được cử giữ chức Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội thương. Vào năm 1979, ông chuyển
sang làm Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ở đây,
ông đã làm một việc tày đình nữa là dám cắt bỏ hàng mấy chục dự án đầu tư của
các ngành và các địa phương, vì ông thấy đó là sự phân tán vốn đầu tư vào những
việc không có hiệu quả, trong khi những lĩnh vực “nước sôi lửa bỏng” thì không
có vốn. Ông muốn chấm dứt tình trạng đã kéo dài nhiều thập kỷ: cái gì cũng muốn
làm một tý, rút cục không có gì đến nơi đến chốn cả.
Đến năm
1981, ông được tái cử làm Bộ trưởng Bộ Nội thương. Ở đây ông đã thực thi nhiều
tư tưởng kinh tế mà ông nung nấu từ thời ở Viện Kinh tế học. Trong đó có một việc
"tày đình" nữa là dẹp bỏ các cửa hàng cung cấp đặc biệt ở Nhà Thờ,
Tôn Đản, Vân Hồ, Đặng Dung, điều mà cũng phải dũng cảm lắm mới dám làm.
Nhậm chức
Bộ trưởng chưa đầy một tháng, ông đã trình Bộ Chính trị một bản kiến nghị nổi
tiếng: "Kiến nghị về cải tiến quản lý thương nghiệp". Trong đó ông vạch
rõ: Với cơ chế "mua như cướp, bán như cho" hiện hành thì ngành thương
nghiệp hoàn toàn bị tê liệt. Để cởi trói cho ngành thương nghiệp, ông kiến nghị:
bãi bỏ chế độ tem phiếu, bãi bỏ hệ thống giá cung cấp và hệ thống giá thu mua,
cho phép ngành thương nghiệp mua theo giá thỏa thuận, bán theo giá tự do.
Thời đó
thì bản kiến nghị này là "phát súng thần công" bắn vào cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, mở đường cho cơ chế thị trường. Nó gây ra một cuộc tranh luận hết
sức căng thẳng trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ. Cuối cùng, nó
chỉ được chấp nhận một cách dè dặt: chế độ cung cấp bị thu hẹp một phần, ngành
thương nghiệp có thêm một số quyền tự do hành động.
Phải 5 năm
sau, khi ông giữ chức Phó Thủ tướng phụ trách phân phối lưu thông thì bản kiến
nghị của ông mới giành được sự đồng tình ủng hộ của các bộ có liên quan, dẫn tới
cuộc cải cách giá và lương năm 1985. Kết quả là: hệ thống giá được tự do hóa,
tiền lương được tiền tệ hóa, mọi hoạt động mua và bán đều theo giá thị trường.
Nhưng cuộc cải cách đã dẫn đến một đợt lạm phát phi mã và vì thế, ông được miễn
nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng, trở lại làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước,
phụ trách Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượng sản xuất cho đến khi nghỉ
hưu.
Tôi vẫn nhớ,
có lần, vào khoảng 1983-1984, ngay từ khi ở đỉnh cao của quyền lực, Trần Phương
đã nói với tôi: "Kể ra làm Phó Thủ tướng vài năm để thi thố những tài năng
của mình cũng là điều thú vị chứ cậu? Sau đó tớ sẽ trở về làm nghề gõ đầu trẻ.
Đó cũng là một trong những nghề tớ thích nhất trên đời". Điều ông nói hôm
đó sau này đã trở thành lời tiên tri.
Thực tế
thì ông đã bắt đầu sự nghiệp đào tạo cán bộ (mà nay gọi là “đào tạo nguồn nhân
lực”) ngay từ buổi đầu đảm nhiệm chức năng lãnh đạo Viện Kinh tế học – một
trong những viện được thành lập đầu tiên trong Ủy ban Khoa học Nhà nước những
năm đầu 1960, khi mà đất nước vừa mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp và bước
vào khôi phục và phát triển kinh tế.
Nền kinh tế
cũng như các cơ quan quản lý và nghiên cứu kinh tế thời đó là những nơi
"chiêu hiền đãi sĩ". Bất cứ ai có khả năng nghiên cứu đều được Viện
trưởng "vời".
Nhưng như
ông nói sau này, ông đã vời về đó hơn 400 con người, rồi lại phải ký quyết định
chuyển công tác cho khoảng trên 300 vị. Tại sao vậy? Hầu hết những cán bộ
nghiên cứu đều không từ một nguồn đào tạo đầy đủ nào cả, mà lấy ngang lấy tắt:
một số từ trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, một số từ các ban nghiên cứu của Phủ Thủ
tướng, một số từ các cơ quan tham mưu của quân đội, một số từ các bộ, các ty, sở...
Những người
này đã mất phần lớn thời gian cho cuộc cách mạng và kháng chiến. Tri thức
nghiên cứu không đủ, cái đà nghiên cứu khoa học cũng không có, nên hiệu quả
nghiên cứu rất hạn chế. Thực tế đó làm nảy sinh trong đầu Viện trưởng Trần
Phương một ý tưởng: Phải đào tạo những nhà kinh tế. Ông đã từng mở một lớp bồi
dưỡng cho các cán bộ đầu đàn của Viện Kinh tế học, do các chuyên gia Liên Xô giảng
dạy. Nhưng thế hệ này còn làm việc được bao lâu nữa.
Về lâu
dài, phải bắt đầu đào tạo lớp trẻ, tức là tuyển những học sinh tốt nghiệp phổ
thông để đào tạo chính quy. Muốn thế, phải mở ra ở bậc đại học một khoa chuyên
về Lý luận kinh tế. Khoa đó không thể để trong Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
là nơi có mục tiêu đào tạo cán bộ thực hành. Thế là Khoa Kinh tế Chính trị thuộc
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập vào tháng 11/1974 với nhiệm vụ là
đào tạo cán bộ kinh tế chính trị có khả năng phân tích, hoạch định chính sách,
khả năng nghiên cứu kinh tế chính trị. Trần Phương là người sáng lập và cũng là
Chủ nhiệm khoa đầu tiên.
Thầy Trần
Phương đã huy động hầu hết cán bộ của Viện Kinh tế sang làm cán bộ giảng dạy và
cán bộ quản lý, thậm chí cả cán bộ hành chính cho khoa này. Hệ thống thư viện,
phòng tư liệu của Viện Kinh tế cũng được ông giao nhiệm vụ phục vụ nhu cầu học
tập và giảng dạy của khoa.
Khi khoa mới
được thành lập, Trần Phương đã dành thời gian trực tiếp lên lớp giảng bài và
báo cáo ngoại khóa cho sinh viên. Những ai đã được nghe ông giảng bài, hoặc
nghe ông nói chuyện đều có ấn tượng rất sâu sắc về kiến thức uyên thâm, về
phương pháp dạy, hình thành ở người học bản lĩnh, phương pháp tư duy và đặc biệt
là niềm say mê khám phá khoa học.
Trần
Phương rất quan tâm đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, bởi chính
ông là một nhà nghiên cứu. Trong 4 năm học, sinh viên Khoa Kinh tế được 3 lần
đi thực tập để khảo sát thực tế và viết báo cáo khoa học. Trần Phương đã nhiều
lần trực tiếp đưa sinh viên xuống địa bàn thực tập, trực tiếp đọc, góp ý cho
các luận văn. Về viết, ông rất nghiêm khắc và đòi hỏi cao. Ông đặc biệt chú trọng
đến tính độc lập, sự sắc sảo và cả những gai góc trong nghiên cứu. Nhờ vậy,
sinh viên của ông trưởng thành nhanh về năng lực và bản lĩnh nghiên cứu khoa học.
Nhưng Trần
Phương chỉ trực tiếp làm Chủ nhiệm Khoa trong 4 năm (1974-1978). Vào những năm
cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX, việc "truyền đạo" chỉ là một phần trong
các hoạt động của ông. Việc đời còn ngổn ngang bao cuốn hút: nhiều vấn đề đại sự
của quốc gia đang đòi hỏi ông phải tham gia giải quyết. Sau khi đã thành lập
Khoa Kinh tế và vực nó cho có đà, ông đã trao chức Chủ nhiệm khoa cho một Viện
trưởng mới lên thay ông, để ông rảnh tay lo "việc đời".
Khi về nghỉ
hưu ở tuổi 65, ông bắt tay vào thực hiện mơ ước “làm nghề gõ đầu trẻ”. Và khác
với cái mơ ước viết văn 40 năm trước, lần này ông đã toại nguyện. Từ năm 1996,
ông đứng ra thành lập trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội. Đây
cũng là một trong những nơi quy tụ nhiều nhân tài nhất trong lĩnh vực kinh tế của
đất nước: hàng trăm giáo sư, tiến sĩ, trong đó có một chục vị đã từng giữ chức
Bộ trưởng, Thứ trưởng, đã về đây làm việc cùng ông, đào tạo nên hàng chục nghìn
trí thức trẻ cho đất nước.
Có câu hát
quan họ "Còn duyên kẻ đón người đưa. Hết duyên đi sớm về trưa một
mình". Ông quả là đã thôi quyền lực, thôi khả năng ban phát chức tước và lợi
ích cho người khác rồi. Nhưng nhân tài vẫn về với ông. Những người đồng sự cũ vẫn
không để ông "một mình".
Hẳn là
trong thời gian ông cầm quyền, từ Viện trưởng Viện Kinh tế học cho tới Phó Thủ
tướng, ông đã để lại những dấu ấn và những cảm tình không phai mờ nơi những người
quanh ông. Bởi lẽ đó, và có lẽ cũng chỉ bởi lẽ đó thôi, mà đến khi cả quyền, cả
chức đã hết, thì tình nghĩa vẫn đầy. Hóa ra ông vẫn còn "duyên".
(*) Đặng Phong (1937-2010) tốt nghiệp ngành lịch sử của Đại học Hà Nội vào năm 1960 và Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội vào năm 1964. Ông đã từng làm Trưởng phòng nghiên cứu Lịch sử kinh tế tại Viện Kinh tế học (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam); Phó Tổng biên tập Tạp chí Thị trường và Giá cả, (Ủy ban Vật giá Nhà nước); Trưởng khoa Kinh tế (Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội); giảng viên thỉnh giảng tại một số trường đại học, cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước.
Bài viết được thực hiện và ngày 14 tháng 4 năm 2003.
———————————————————————————-
Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 43-2025 phát hành ngày 27/10/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Thủ tướng thăm, làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chiều ngày 23/2, tại Hà Nội, trong ngày làm việc chính thức đầu tiên sau Tết, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới thăm, làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và gặp mặt, động viên các nhà văn hóa, trí thức, văn nghệ sĩ, vận động viên, đại diện các doanh nghiệp văn hóa, du lịch...
Kiểm toán Nhà nước phải là công cụ quan trọng trong giám sát tài chính công, tài sản công
Chủ tịch Quốc hội đề nghị ngành kiểm toán phải đi sâu, đi sát hơn nữa vào thực tiễn, trở thành công cụ quan trọng, là “thanh gươm” sắc bén của Quốc hội trong giám sát tài chính công, tài sản công
Thủ tướng làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về triển khai các nghị quyết chiến lược
Sáng 23/2, ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm, làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chủ tịch UBND TP. Hà Nội yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính kịp thời từ đầu năm
Ngày 23/2, trong ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng dẫn đầu Đoàn công tác của thành phố kiểm tra công vụ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công TP. Hà Nội – Chi nhánh số 3 và phường Hoàn Kiếm, yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính kịp thời ngay từ đầu năm.
Chủ tịch Quốc hội: Tập trung cao độ cho 9 nhiệm vụ lớn trong tháng 3/2026
Tại cuộc họp giao ban đầu Xuân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu tập trung cao độ các nhiệm vụ lớn, nhấn mạnh tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định gồm: Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38; Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: