Trình bày Tờ trình Dự án Luật Phá sản (sửa đổi), Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến cho biết dự thảo gồm 89 điều, 08 chương.
Dự thảo điều chỉnh về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thủ tục phục hồi, phá sản; quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản.
Trình bày thẩm tra sơ bộ dự án luật, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nhấn mạnh hồ sơ dự án luật cơ bản đáp ứng yêu cầu.
Tuy nhiên, Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cần phải đánh giá tác động của việc sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả chi phí phá sản nhằm bảo đảm tính khả thi, tránh lạm dụng chính sách gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước. Đồng thời, cần phải xác định cụ thể nguồn kinh phí và trình tự, thủ tục phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan soạn thảo lưu ý cơ chế hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong giai đoạn phục hồi. Đề nghị nghiên cứu quy định theo hướng Nhà nước sẽ giãn, hoãn các loại thuế cho doanh nghiệp, hợp tác xã nợ thuế trong giai đoạn thực hiện phục hồi hoặc trong thời hạn nhất định.
Dự thảo cũng quy định về bán đồng bộ tài sản, một phần hoặc toàn bộ mảng kinh doanh, hoạt động kinh doanh; bán một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã.
Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính cho rằng đây là một chế định quan trọng được thực hiện không chỉ trong thủ tục phá sản mà còn cả trong thủ tục phục hồi nhằm đưa ra một giải pháp dự phòng tối ưu giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thể đưa ra phương án phục hồi, tái cấu trúc các khoản nợ.
Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và hiệu lực của chế định này, đề nghị cân nhắc nghiên cứu bổ sung quy định mang tính nguyên tắc và giao cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết tại dự thảo Luật. Đồng thời đề nghị cân nhắc sử dụng khái niệm "bán đồng bộ tài sản, một phần và toàn bộ mảng kinh doanh, hoạt động kinh doanh", bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Liên quan tới áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn, Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục rà soát các quy định của dự thảo để bảo đảm tính khả thi, tránh chồng chéo với quy định của pháp luật có liên quan, nhất là quy định về thủ tục phục hồi, phá sản đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm…
Các đại biểu cơ bản đồng tính với việc đổi tên luật thành “Luật Phục hồi, phá sản” nhằm phù hợp với việc mở rộng phạm vi quy định về chế định phục hồi trong dự án luật.
Đồng thời bảo đảm đúng mục tiêu, định hướng xây dựng luật là khuyến khích, ưu tiên phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế, tránh tâm lý e ngại thủ tục phá sản…
Nêu ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu cơ quan soạn thảo phải đánh giá kỹ lưỡng tác động của việc dùng ngân sách nhà nước để đảm bảo chi phí phá sản trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng chi trả, đảm bảo đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước.
Chủ tịch Quốc hội đặc biệt lưu ý đến việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sản. "Đã phá sản rồi mà thủ tục kéo dài nữa rất phiền hà. Theo báo cáo, có vụ kéo dài 10 năm, 16 năm vẫn đang thi hành. Chúng ta phải xem lại thời gian này", Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng yêu cầu làm rõ các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội phục hồi, thay vì đi đến con đường phá sản.
Đồng thời, Chủ tịch Quốc hội đánh giá việc sửa đổi luật là yêu cầu cấp thiết hiện nay, đảm bảo phù hợp chủ trương, chính sách của Đảng và cải cách tư pháp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khắc phục quy định còn chồng chéo, không thống nhất giữa Luật Phá sản năm 2014 với các Luật khác.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh phương châm là "tắc đâu thông đó, khó đâu tháo đó" để tạo điều kiện cho kinh tế xã hội của đất nước phát triển.
TP. Hồ Chí Minh đang trên đà phát triển mạnh mẽ để trở thành một đô thị văn minh, hiện đại và là trung tâm kinh tế của khu vực Đông Nam Á vào năm 2030. Đây không chỉ là mục tiêu của chính quyền Thành phố, còn là khát vọng của người dân đang sinh sống và làm việc tại đây…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới tư duy phát triển văn hóa, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, chuyển hóa di sản thành tài sản trí tuệ và đưa công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng mới.
Biểu dương 124 cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại Venezuela, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh: “Giữa đổ nát, Việt Nam mang đến hy vọng; giữa mất mát, Việt Nam mang đến sự sẻ chia; giữa hiểm nguy, Việt Nam mang đến bản lĩnh; giữa nỗi đau, Việt Nam mang đến nghĩa tình”.
Ngày 10/7, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký 2 Quyết định về việc điều động, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Việc ký kết quy chế phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước với các địa phương không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên mà còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời thúc đẩy định hướng xây dựng chính phủ điện tử và chuyển đổi số...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.