Ngày 19/8/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình phối hợp với Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng Văn phòng UNESCO tại Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Giá trị thương hiệu Quần thể danh thắng Tràng An gắn với chính sách bảo tồn Di sản và phát triển du lịch bền vững”.
Tại hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận, đánh giá toàn diện giá trị thương hiệu Quần thể danh thắng Tràng An; chỉ ra thuận lợi, khó khăn và thách thức; đồng thời đề xuất giải pháp cụ thể để hoạch định chiến lược phát triển bền vững trong dài hạn.
MÔ HÌNH HỢP TÁC CỘNG ĐỒNG – DOANH NGHIỆP – NHÀ NƯỚC
Phát biểu đề dẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình Trần Song Tùng nhấn mạnh: "Ninh Bình sở hữu hệ sinh thái di sản phức hợp với đầy đủ di sản văn hóa, di sản định cư, cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học".
Nhận thức rõ giá trị to lớn của quần thể, thời gian qua địa phương đã tập trung nguồn lực cho nghiên cứu khoa học, phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ, cải thiện kết nối giao thông, phục dựng cảnh quan, tôn tạo di tích lịch sử và khôi phục không gian văn hóa truyền thống. Ông Tùng cho rằng những nỗ lực này không chỉ bảo tồn, phát huy giá trị di sản mà còn tạo sức hút đối với du khách trong và ngoài nước, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng.
Hội thảo là diễn đàn quan trọng để các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý, bảo tồn và khai thác giá trị Di sản. Đây cũng là dịp để Ninh Bình tiếp thu bài học từ thực tiễn trong nước và quốc tế, đồng thời lan tỏa thương hiệu toàn cầu của Quần thể danh thắng Tràng An.
Thông qua sự kiện, tỉnh Ninh Bình kỳ vọng xây dựng “Văn kiện Tràng An” văn bản mang tính định hướng, tập hợp những khuyến nghị thiết thực về cơ chế, chính sách, khẳng định cam kết và quyết tâm của địa phương trong quản lý và bảo tồn Di sản.
Di sản Tràng An được định hướng phát triển với phương châm: Thiên nhiên là nền tảng, Văn hóa là động lực, Con người là trung tâm. Tỉnh Ninh Bình chú trọng hoàn thiện mô hình hợp tác công – tư, kết nối bốn chủ thể Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Người dân; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa trong phát huy giá trị di sản.
Người dân được xác định là chủ thể của phát triển bền vững, trực tiếp tham gia bảo tồn di tích, di sản văn hóa phi vật thể, đa dạng sinh học, đồng thời hưởng lợi thông qua việc làm và thu nhập từ du lịch.
KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ DI SẢN TOÀN CẦU, ĐỊNH HƯỚNG CHO MÔ HÌNH “ĐÔ THỊ – DI SẢN – SINH THÁI – VĂN HÓA”
Theo báo cáo, Ninh Bình hiện có gần 5.000 di tích, trong đó 8 di tích quốc gia đặc biệt, 33 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cùng một Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới – Quần thể danh thắng Tràng An.
Năm 2014, Tràng An chính thức được UNESCO công nhận là Di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, đánh dấu mốc quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo tồn di sản, đồng thời khẳng định vị thế của Ninh Bình trên bản đồ di sản toàn cầu.
Thời gian qua, các khuyến nghị của Ủy ban Di sản Thế giới được tỉnh Ninh Bình triển khai nghiêm túc. Công tác nghiên cứu khoa học, xúc tiến quảng bá và diễn giải giá trị di sản thường xuyên đổi mới, tạo nền tảng bảo đảm tính toàn vẹn, tính xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu của Tràng An.
Đặc biệt, năm 2024, Ninh Bình phối hợp với Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật cùng chuyên gia quốc tế thực hiện Đề án “Lượng giá giá trị kinh tế của Quần thể danh thắng Tràng An”.
Kết quả cho thấy tổng giá trị kinh tế được lượng hóa khoảng 213 tỷ USD, bao gồm nhiều nhóm giá trị như du lịch, đa dạng sinh học, khảo cổ, rừng đặc dụng, tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu đi kèm khuyến nghị về các mô hình phát triển đặc thù và chính sách bảo tồn theo chuẩn mực quốc tế.
Tại Hội thảo, 16 tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã được trình bày, phân tích sâu sắc về giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản. Hội thảo đã thông qua “Văn kiện Tràng An”, khẳng định tầm nhìn chiến lược đưa Quần thể danh thắng Tràng An trở thành mô hình tiêu biểu về phát triển bền vững dựa trên di sản, với thông điệp: Tràng An là nguồn cảm hứng, biểu tượng của hòa bình, sáng tạo và phát triển.
“Văn kiện Tràng An” cũng mở ra định hướng cho mô hình “Đô thị – Di sản – Sinh thái – Văn hóa”, hài hòa giữa bảo tồn, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao phúc lợi cộng đồng, qua đó khẳng định trách nhiệm và khát vọng của Ninh Bình trong việc gìn giữ Di sản cho các thế hệ mai sau.
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.