Cuộc họp có sự tham dự của hơn 600 đại biểu đến từ Ban Thư ký Ozone, các tổ chức quốc tế và 154 quốc gia thành viên của Nghị định thư Montreal.
Các đại biểu đã cùng thảo luận: Báo cáo tài chính và ngân sách của Quỹ tín thác thực hiện Nghị định thư Montreal; điều khoản tham chiếu để nghiên cứu bổ sung cho Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montreal; phát thải của chất HFC-23; tăng cường giám sát khí quyển đối với các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal.
Các chuyên gia cũng trao đổi vấn đề quản lý vòng đời các chất được kiểm soát; các sáng kiến khu vực, quốc gia hỗ trợ thực hiện Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal; tăng cường thể chế của Nghị định thư Montreal.
Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin tại phiên họp, đoàn Việt Nam đưa ra 3 nội dung ưu tiên để thúc đẩy hành động toàn cầu trong việc thực hiện Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.
Thứ nhất, xây dựng các chính sách và tiêu chuẩn để tạo hành lang pháp lý huy động các khoản đầu tư dài hạn dành cho các hoạt động loại trừ, cải thiện hiệu suất năng lượng và quản lý vòng đời môi chất lạnh.
Thứ hai, tăng cường khả năng tiếp cận tài chính, chuyển giao công nghệ và xây dựng năng lực cho các quốc gia đang phát triển (các quốc gia thuộc Điều 5 của Nghị định thư Kigali), đặc biệt là để triển khai các công nghệ sử dụng chất thay thế có chỉ số tiềm năng làm nóng lên toàn cầu (GWP) thấp; đào tạo kỹ thuật viên và xây dựng hệ thống kỹ thuật số theo dõi kiểm soát dòng chảy môi chất lạnh.
Thứ ba, thúc đẩy quản lý vòng đời môi chất lạnh, hỗ trợ thu hồi, tái chế, tái sử dụng và tiêu hủy an toàn các chất được kiểm soát, bao gồm các môi chất lạnh tồn trữ.
Trong khuôn khổ phiên họp cấp cao, ông Lê Ngọc Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Trưởng đoàn Việt Nam đã cập nhật thông tin việc Việt Nam triển khai Kế hoạch quốc gia quản lý và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát.
Cùng với đó Việt Nam chú trọng đến việc cải thiện hiệu suất năng lượng và quản lý vòng đời môi chất lạnh. Nội dung làm mát cũng đã được xem xét, đưa vào trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026-2035 (NDC 3.0) với ưu tiên các giải pháp hướng tới việc thực hiện cam kết trung hòa carbon vào năm 2050.
Đoàn Việt Nam kêu gọi các bên phối hợp trong việc hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực cho các quốc gia thuộc Điều 5 của Nghị định thư trong hoạt động thu hồi, tái chế và tiêu hủy an toàn các chất được kiểm soát.
Trong thời gian diễn ra cuộc họp, Đoàn Việt Nam đã có các cuộc gặp bên lề với các tổ chức và đối tác phát triển quốc tế như: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), Liên minh Khí hậu và không khí sạch (CCAC), Cơ quan Hợp tác Môi trường quốc tế (OECC) Nhật Bản và công ty A‑Gas Ltd.
Các đối tác cùng trao đổi các cơ hội hợp tác tiềm năng, việc triển khai hoạt động chuyển giao công nghệ quản lý môi chất lạnh, thu hồi và tái chế môi chất lạnh trong khu vực các nước Điều 5.
Sau 5 ngày làm việc, MOP 37 đã thông qua nhiều quyết định kỹ thuật và hành chính quan trọng liên quan tới việc tăng cường giám sát khí quyển, nâng cấp quản lý vòng đời các môi chất lạnh, xây dựng điều khoản tham chiếu cho việc xem xét bổ sung Quỹ Đa phương (MLF) giai đoạn 2027-2029…
Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển tín chỉ carbon rừng tạo nguồn lực tài chính và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 1- 3 dự án carbon rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ trong nước hoặc quốc tế…
Trước nguy cơ ô nhiễm gia tăng khi xuất hiện điều kiện thời tiết bất lợi, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng yêu cầu trước hết không để môi trường xấu đi, đồng thời từng bước tháo gỡ điểm nghẽn về môi trường. Đặc biệt phải kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải từ phương tiện giao thông, công trình xây dựng, phá dỡ, hoạt động đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và đốt rác...
Trung Quốc đã đạt những thành tựu nổi bật trong giảm phát thải khí nhà kính và phát triển năng lượng sạch. Nhưng khi các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng, nước này đang đứng trước một bài toán mới: phát triển công nghệ và hạ tầng đủ sức thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu…
Theo chuyên gia, nguồn thu trực tiếp từ tín chỉ carbon có thể không lớn nhưng giá trị lớn hơn nằm ở việc biến kết quả giảm phát thải thành bằng chứng về năng lực môi trường, từ đó tạo uy tín và mở thêm cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp…
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp trên toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường và phát thải carbon. Với ngành cơ khí Việt Nam, đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để nâng cấp công nghệ, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Những ngày này, tại các công trường xây dựng trường nội trú liên cấp ở khu vực vùng biên Thanh Hóa, hàng trăm kỹ sư, công nhân đang khẩn trương thi công ngày đêm, chạy đua với thời gian để hoàn thành công trình trước ngày 30/8, kịp đưa vào sử dụng trong năm học mới.