Thị trường chứng khoán Việt Nam trong tháng 3/2026 chịu áp lực điều chỉnh mạnh khi các yếu tố rủi ro bên ngoài bất ngờ gia tăng, đặc biệt là xung đột Trung Đông kéo theo lo ngại về an ninh năng lượng, áp lực lạm phát nhập khẩu và rủi ro thắt chặt thanh khoản ngắn hạn.
Tính đến ngày 31/03/2026, VN-Index giảm 10,9% so với tháng trước. Diễn biến thị trường nhìn chung mang tính phòng thủ trong phần lớn thời gian của tháng, trước khi ghi nhận nhịp hồi phục nhẹ trong tuần cuối cùng, cho thấy dòng tiền bắt đáy vẫn chưa đủ mạnh để đảo ngược hoàn toàn tâm lý thận trọng.
Điểm đáng chú ý là dù chỉ số giảm sâu, thanh khoản không suy yếu tương ứng mà gần như đi ngang so với tháng 2, với giá trị giao dịch bình quân VN-Index đạt 27.193 tỷ đồng/phiên. Diễn biến này phản ánh dòng tiền chưa rút khỏi thị trường một cách quyết liệt, mà chủ yếu chuyển sang trạng thái giao dịch ngắn hạn, xoay vòng và chọn lọc cơ hội khi có sự gia tăng mức chiết khấu rủi ro đối với cổ phiếu.
Bước sang tháng 4, nhận định về thị trường, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng thị trường đã phản ánh phần lớn kịch bản tăng trưởng suy giảm và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, trong khi cú sốc địa chính trị tại Trung Đông đang tiến dần tới một“thời điểm quan trọng” về giới hạn hành động của các bên.
Dù rủi ro còn lớn, diễn biến tài sản toàn cầu hiện vẫn nghiêng về kịch bản cú sốc kéo dài nhưng có kiểm soát hơn là một trạng thái đổ vỡ niềm tin diện rộng như các biến cố lịch sử trước đây. Các chỉ số chứng khoán lớn điều chỉnh ở mức vừa phải, USD tiếp tục mạnh lên, còn lợi suất trái phiếu đồng loạt tăng khi thị trường thu hẹp kỳ vọng nới lỏng tiền tệ.
Trong bối cảnh đó, cú sốc năng lượng từ eo biển Hormuz đang làm gia tăng kịch bản đình lạm: lạm phát bị đẩy lên trong khi tăng trưởng bị bào mòn, đặc biệt tại các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng, qua đó khiến khả năng phục hồi nhanh của thị trường trong ngắn hạn vẫn tương đối hạn chế.
Tuy nhiên, bức tranh không hoàn toàn bi quan. Với Mỹ, áp lực lạm phát, chi phí chiến tranh và giới hạn thời gian chính trị nhiều khả năng sẽ khiến dư địa kéo dài xung đột không lớn như thị trường lo ngại ở kịch bản cực đoan.
Với Việt Nam, định hướng điều hành đang rõ hơn theo hướng ưu tiên tăng trưởng nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô, thể hiện qua nỗ lực hoàn thiện thể chế, giảm độ trễ chính sách và duy trì thế cân bằng trong điều hành tiền tệ. Đây là nền tảng quan trọng để giữ kỳ vọng trung hạn cho thị trường.
Trong ngắn hạn, triển vọng kết quả kinh doanh quý 1/2026 vẫn duy trì sự tích cực. Mức tăng trưởng được dẫn dắt bởi cầu nội địa và chu kỳ đầu tư, thể hiện rõ ở nhóm ngân hàng, bán lẻ. Bên cạnh đó, các ngành hưởng lợi từ giá hàng hóa/ biến động địa chính trị có xác suất tạo bất ngờ lớn so với mặt bằng chung.
VDSC cho rằng VN-Index trong trung hạn vẫn có dư địa vận động trong vùng 1.584–2.042 điểm, tương ứng mức biến động -5,4% đến +21,9% so với cuối tháng Ba.
"Thị trường chưa sẵn sàng cho một nhịp hồi phục nhanh, nhưng nếu xuất hiện đủ những “cơn gió đông” từ hạ nhiệt địa chính trị, ổn định năng lượng và hiệu lực chính sách trong nước, quỹ đạo tăng nhanh trở lại của thị trường vẫn khả thi", báo cáo nhấn mạnh.
Trong bối cảnh lãi suất vẫn neo cao và rủi ro suy thoái toàn cầu gia tăng do căng thẳng Trung Đông, thị trường sẽ tiếp tục biến động liên tục theo diễn biến tại eo biển Hormuz. Dù một phần rủi ro đã phản ánh vào giá, dòng tiền ngắn hạn vẫn nên ưu tiên bảo toàn vốn, hạn chế mua đuổi các cổ phiếu tăng nóng theo tin chiến sự và thận trọng với các nhóm chỉ hưởng lợi nhất thời từ cú sốc giá năng lượng hoặc gián đoạn vận tải, bởi triển vọng có thể đảo chiều nhanh khi căng thẳng hạ nhiệt.
Ở góc nhìn dài hạn, nhịp điều chỉnh hiện tại lại mở ra cơ hội tích lũy đối với các doanh nghiệp đầu ngành có nền tảng tài chính vững, năng lực cạnh tranh rõ ràng và triển vọng tăng trưởng 2–3 năm chưa bị phá vỡ bởi biến động ngắn hạn.
Nhà đầu tư được khuyến nghị nên ưu tiên giải ngân chọn lọc vào bluechip và nhóm đầu ngành khi định giá trở về vùng hấp dẫn dưới áp lực từ rủi ro thị trường chung.
Trong lần cập nhật danh mục chủ động này, VDSC tăng tỷ trọng vào nhóm ngân hàng, bán lẻ–tiêu dùng và các cổ phiếu có câu chuyện trong tương lai gần, đồng thời giảm chọn lọc ở các nhóm mang tính chu kỳ cao. Ở ngân hàng, trọng tâm là tăng trưởng gắn với chất lượng tài sản, với MBB, CTG và VCB là các lựa chọn ưu tiên. Ở bán lẻ–tiêu dùng, chúng tôi nâng tỷ trọng MWG, DGW và MSN nhờ kỳ vọng kết quả kinh doanh quý 1 tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi của tiêu dùng và xu hướng mở rộng kênh bán hàng hiện đại.
Với bất động sản, trọng tâm chuyển sang các doanh nghiệp có bảng cân đối lành mạnh, áp lực nợ thấp và điểm rơi lợi nhuận rõ hơn, ưu tiên TCH và KDH. Bên cạnh đó, VDSC cũng duy trì quan điểm tích cực với các nhóm thủy sản, đầu tư công, vận tải dầu khí và khu công nghiệp, lựa chọn ANV, ACV, CTI, PVT, PHR và KBC. Đây là nhóm vừa có động lực tăng trưởng riêng, vừa phù hợp hơn với chiến lược phòng thủ chủ động trong giai đoạn thị trường còn sự bất định.
Thay đổi mấu chốt của phiên hôm nay là nhịp kéo giá các cổ phiếu trụ ngân hàng ngay đầu phiên chiều. Buổi sáng chính nhóm này triệt tiêu sức mạnh của VIC và VHM. Điểm tích cực là nhịp kéo này được hưởng ứng khá tốt.
15 phút đầu tiên của phiên chiều nay đã xoay chuyển hoàn toàn cục diện bán tháo và lao dốc của cổ phiếu. Trong khi VIC, VHM vẫn chưa kịp phản ứng thì loạt blue-chips ngân hàng được kéo thốc giá. VN-Index phục hồi mạnh 1,4% chỉ trong thời gian rất ngắn này, tạo đà cho toàn bộ nhịp tăng còn lại.
Sự phục hồi mạnh của VIC và VHM đang giúp VN-Index điều chỉnh rất nhẹ trong phiên sáng nay. Tuy nhiên cổ phiếu đang thể hiện bức tranh khác khi tới trên 56% các mã có giao dịch của chỉ số đã lao dốc quá 1% giá trị, trong đó gần 130 mã giảm quá 2%.
Ngoài khả năng hưởng lợi từ nền lãi suất cao, lượng tiền mặt dồi dào còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
Trong phiên giao dịch ngày 22/7, tỷ giá đồng yên Nhật Bản so với đồng USD giảm xuống mức đáy mới của 40 năm qua. Sức ép mất giá đối với yên tăng thêm khi chiến lược kinh tế mới của Thủ tướng Sanae Takaichi khiến nhà đầu tư lo ngại về sức khỏe nền tài khóa của Nhật Bản...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.