
Đ
ầu giờ sáng ngày 24/4, tại sàn giao dịch của các công ty ch
ứng kho
án
ở Tp.HCM, các nhà đầu tư xôn xao bàn tán về thông tin đăng tải trên VietnamNet, gần như trái ngược với thông tin do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hồi đầu tháng 4/2007
.
C
ụ th
ể,
ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) cho biết: “Con số 4 tỷ USD vốn gián tiếp được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam là chưa chính xác. Số tiền thực chất mà các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào thị thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ có hơn 1 tỷ USD”.
Theo những con số mà ông Thành có được thì đến tháng 10/2006, số vốn đầu tư gián tiếp mà các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam mới chỉ khoảng 700 triệu USD và cuối năm 2006 cũng chỉ trên 1 tỷ USD. Ông Thành cũng cho biết, con số 4 tỷ USD đã được thông tin có thể hiểu là với số tiền thực sự đầu tư là 1 tỷ USD ban đầu, nhưng đến nay theo giá thị trường đã lên đến 4 tỷ USD, chứ hoàn toàn không có chuyện các nhà đầu tư nước ngoài đổ 4 tỷ USD vốn gián tiếp vào Việt Nam trong thời gian qua.
Liên quan đến việc áp dụng các chính sách quản lý nguồn vốn trên thị trường chứng khoán, ông Thành bày tỏ quan điểm, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phải đến lúc cần những biện pháp quản lý kiểm soát luồng vốn một cách mạnh mẽ. Điều quan trọng là phải tăng cường tính minh bạch về thông tin. Các nguồn vốn ra vào chúng ta phải biết nguồn vốn từ đâu, bao nhiêu và đằng sau nó là ai...
Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư khoảng 4 tỷ USD vào thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Đây là số liệu đưa ra trong bản báo cáo cập nhật tình hình kinh tế khu vực Đông Á - Thái Bình Dương đã được WB công bố vào đầu tháng 4/2007.
Trong bản báo cáo, WB còn đánh giá thị trường chứng khoán sẽ còn tiếp tục được mở rộng do 20 doanh nghiệp Nhà nước lớn sẽ niêm yết vào năm 2007.
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh từ dưới 0,5 tỷ USD vào tháng 12/2005 lên 13,8 tỷ USD (22,7% GDP) vào cuối năm ngoái và hiện nay đạt mức 24,4 tỷ USD. Tính đến thời điểm hiện nay, trên sàn Tp.HCM, các nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu 12 mã cổ phiếu của các doanh nghiệp hàng hiệu (blue-chips) và chứng chỉ quỹ VF1 với tỷ lệ từ trên 45% đến mức tối đa cho phép là 49%, gồm: AGF, BMP, BT6, CII, GIL, GMD, REE, SAM, TDH, TMS, TYA, và VNM, riêng cổ phiếu của Sacombank nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu hết room là 30%.
Nguồn thông tin gần như trái ngược với thông tin của WB đưa ra đã tác động khá mạnh đến tâm lý của những nhà đầu tư trong nước, phiên 24/4, họ tiếp tục bán ra số lượng lớn cổ phiếu và mua vào rất ít, bảng điện tử đỏ rực ngay từ phiên khớp lệnh đầu tiên.
Nhiều nhà đầu tư trong nước mong muốn và đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần công bố thông tin chính thức về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đã đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam, số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài đã mở và số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài uỷ thác đầu tư vào thị trường chứng khoán, đồng thời đưa ra dự báo tổng số tiền nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong 2-3 năm tới.
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ nên rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương với những nguồn thông tin trên thị trường, nhất là thông tin do những chuyên gia, tổ chức có tên tuổi đưa ra. Do đó, nên cân nhắc thật kỹ lưỡng trước khi tung thông tin ra thị trường.




Bức tranh tổng thể được phản ánh rõ với 70% cổ phiếu thuộc VN-Index tương đương 274 mã trên tổng số 396 mã ghi nhận biến động giảm so với cuối năm 2025, 5 mã đi ngang và chỉ có 117 mã tăng giá.
Mỗi khi thị trường biến động mạnh, nhà đầu tư thường tìm đến những nơi trú ẩn quen thuộc: trái phiếu kho bạc Mỹ, đồng yên Nhật Bản và vàng. Nhưng trong năm 2026, chiến lược này không còn phát huy tác dụng như trước...
Tăng trưởng kinh tế đang mạnh mẽ và thị trường đang bước vào một giai đoạn trưởng thành hơn. Nhiều doanh nghiệp chất lượng đang được định giá rẻ.
Yếu tố thanh khoản vẫn ở nền thấp, thị trường cần thời gian thẩm thấu, đánh giá tính khả thi và đo lường hiệu quả thực tiễn các biện pháp của Chính phủ.
Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá Việt Nam tích cực về dài hạn, nhưng trong ngắn hạn họ vẫn phải chọn lọc kỹ càng, nhất là trong bối cảnh có nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn trên thị trường thế giới.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.