
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa thông qua đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Gần đây đã xảy ra không ít các thông tin bê bối về việc xuất khẩu gạo Việt qua các nước. Giới chuyên gia cảnh báo nếu Việt Nam không thay đổi sẽ phải nhường sân nhà cho gạo ngoại và mất uy tín với các mối hàng quốc tế. Từ một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, gạo Việt đang tụt dần phong độ.
Cổ phần hoá, khuyến khích tư nhân
Theo đề án tái cơ cấu, ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam có. Bên cạnh việc đáp ứng thị trường trong nước, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo theo hướng tăng giá trị và phát triển vững bền...
Đề án có đề cập đến việc tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) và Tổng công ty Lương thực Miền Bắc (Vinafood 1).
Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng kinh doanh, đầu tư vào ngành lúa gạo bằng các dự án hợp tác công tư (PPP), ưu đãi thuế, vốn vay…; đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến nông, doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào có liên kết với nông dân.
Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các doanh nghiệp nòng cốt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia xuất khẩu.
Thu hút đầu tư, liên doanh liên kết lâu dài với doanh nghiệp từ các quốc gia khác có tiềm lực về vốn, công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm kinh doanh để phát triển và hiện đại hóa ngành lúa gạo nước ta.
Hỗ trợ doanh nghiệp lớn, có liên kết sản xuất với nông dân tại các vùng nguyên liệu chuyên canh chính, xác định thị trường mục tiêu, thu hút khách hàng lớn, xây dựng thương hiệu, kết nối trực tiếp với hệ thống bán lẻ.
Hạn chế tối đa các biện pháp quản lý xuất khẩu làm méo mó, gián đoạn thị trường như tạm dừng xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu, trợ giá…
Tập trung phát triển sản xuất các nhóm sản phẩm theo phân khúc thị trường trong nước như gạo đặc sản, gạo chất lượng trung bình, gạo phục vụ cho chế biến.
Về thị trường xuất khẩu, đề án xác định tăng tỷ trọng loại gạo trắng, hạt dài, gạo chất lượng cao (5-10% tấm), giảm tỷ trọng loại gạo trên 15% tấm. Đồng thời, tăng tỷ trọng các loại gạo thơm, gạo đồ, gạo Japonica, đa dạng các sản phẩm chế biến từ gạo.
Xây dựng các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp ngành gạo phát triển thị trường mới nhằm khai thác hiệu quả của các cam kết hội nhập. Hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm, ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp tới các hệ thống phân phối nước ngoài.
Tiếp cận hệ thống bán lẻ tại các thị trường nhập khẩu gạo chất lượng cao. Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và phát triển hệ thống phân phối tại các thị trường nhập khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo đồ sang các thị trường châu Phi, Bắc Mỹ, châu Âu.
Đẩy mạnh hoạt động marketing cho sản phẩm gạo Việt Nam có thương hiệu trên cả thị trường nội địa và quốc tế. Xây dựng kho ngoại quan tại các thị trường chủ lực phù hợp với các cam kết hội nhập nhằm phát triển kênh phân phối cho gạo Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu.
5 năm, 7.000 tỷ
Đến năm 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu 50% lượng gạo xuất khẩu sẽ có thương hiệu Việt, trong đó 30% là gạo đặc sản, gạo thơm.
Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ đã đưa ra lộ trình thực hiện và danh mục các dự án cần ưu tiên thực hiện từ năm 2017 - 2022. Tổng kinh phí vượt hơn 7.000 tỷ đồng.
Trong đó, chiếm 5.000 tỷ đồng là dự án hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ.
Ngoài ra, là hàng loạt các dự án về chọn giống lúa, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và các chủng loại gạo phục vụ xuất khẩu… được lên kế hoạch.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm 2016, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 3,76 triệu tấn, thu về 1,69 tỷ USD. So với cùng kỳ, gạo xấu khẩu năm nay đã giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị.




Chiều 17/10, tại Nhà Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin và Phu nhân thăm chính thức Việt Nam từ ngày 17–18/10/2026.
Góp ý hai dự án luật về bưu chính và đo lường, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế theo hướng tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền lợi người dân và giảm chi phí cho toàn xã hội.
Báo cáo trước Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cho biết cử tri và nhân dân kiến nghị tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp, giải quyết thủ tục đất đai, đẩy mạnh liên thông dữ liệu và xử lý tình trạng lãng phí trụ sở sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Bưu chính phải tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm rào cản gia nhập thị trường, thúc đẩy kinh tế số; đồng thời xây dựng cơ chế hậu kiểm thực chất, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo đảm an ninh, an toàn mạng lưới bưu chính.
Tại lễ kỷ niệm 145 năm Đường sắt Việt Nam, 80 năm Ngày truyền thống ngành Đường sắt, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam đổi mới mô hình hoạt động, làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp đường sắt và khai thác hiệu quả nguồn lực từ hệ thống nhà ga...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.