Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Tại hội thảo tham vấn đại diện các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong nước về nội dung liên quan đến việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon với quốc tế vừa diễn ra, các đơn vị, doanh nghiệp nhấn mạnh nhu cầu mua- bán kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon khá lớn. Do đó, Nghị định mới ra đời được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này.
Cùng với việc chia sẻ nhu cầu tham gia thị trường tín chỉ carbon, các doanh nghiệp cũng đề xuất cơ chế phù hợp để tạo thuận lợi, các sáng kiến nhằm tăng cường kết nối cung- cầu tín chỉ và chính sách hỗ trợ cho hoạt động giảm phát thải, tạo tín chỉ tại Việt Nam trong thời gian tới...
Đại diện cơ quan soạn thảo, ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho rằng từ góc độ quốc gia, hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon cần được xem xét trên 4 khía cạnh.
Thứ nhất, đảm bảo thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính theo Báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Thị trường quốc tế sẽ có yêu cầu về điều chỉnh tương ứng, nghĩa là các lượng tín chỉ carbon từ Việt Nam đưa ra nước ngoài sẽ được tính cho NDC của quốc gia đối tác. Do đó, cần tránh tình trạng bán quá nhiều dẫn đến không đủ nguồn lực thực hiện cam kết trong nước.
Thứ hai, ổn định thị trường carbon trong nước. Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng Nghị định về sàn giao dịch carbon và dự kiến, sàn sẽ vận hành vào cuối năm nay. Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp được phép bù trừ tối đa 30% hạn ngạch phát thải khí nhà kính bằng tín chỉ carbon. Vì vậy, khi cho phép giao dịch quốc tế, cần cân nhắc giữ lại lượng tín chỉ đủ cho thị trường trong nước, tránh rủi ro đầu cơ hoặc khan hiếm tín chỉ.
Thứ ba, cần quản lý thuế, phí và lệ phí trong giao dịch quốc tế. Nếu không có cơ chế tính toán và kiểm soát chặt chẽ, Việt Nam có thể thất thoát nguồn thu quan trọng từ hoạt động này.
Thứ tư, cần đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp trong nước khi tham gia các cam kết quốc tế về giảm phát thải, như cơ chế CORSIA trong ngành hàng không hay cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) từ Liên minh châu Âu hay Mỹ, Anh... Nếu lượng tín chỉ carbon trong nước không đáp ứng được, doanh nghiệp sẽ phải mua tín chỉ từ nước ngoài với giá cao hơn.
Cũng theo Cục Biến đổi khí hậu, từ góc độ doanh nghiệp, các khoản đầu tư giảm phát thải, tạo ra tín chỉ carbon cần đi kèm với cơ chế duy trì và được phép trao đổi quốc tế, từ đó tạo nguồn thu để tái đầu tư sản xuất. Vì thế, việc xây dựng Nghị định phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa quốc gia và doanh nghiệp, đồng thời mở ra cơ chế khuyến khích tham gia mạnh mẽ hơn.
Liên quan đến định hướng quản lý hoạt động trao đổi kết quả giảm nhẹ và tín chỉ carbon, Cục biến đổi khí hậu cho biết quy định về chuyển giao quốc tế sẽ có 2 cách tiếp cận chính. Cụ thể, các trao đổi trong khuôn khổ thực hiện Thỏa thuận Paris (quy định theo Điều 6.2, 6.4) và các trao đổi ngoài khuôn khổ Thỏa thuận Paris theo cơ chế tự nguyện.
Việc trao đổi tín chỉ giữa các bên cần thống nhất, minh bạch thông qua văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế. Các dự án theo cơ chế tự nguyện được khuyến khích đầu tư nhưng vẫn phải có cơ chế quản lý phù hợp và phải đảm bảo cho mục tiêu giảm phát thải của quốc gia.
Trong dự thảo Nghị định, Cục Biến đổi khí hậu đang cân nhắc đề xuất tỷ lệ chuyển giao kết quả giảm nhẹ và tín chỉ carbon từ của các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính ra quốc tế có sự khác nhau dựa trên mức độ ưu tiên cho mục tiêu NDC trong nước và phân loại theo các danh mục có/không có yêu cầu điều chỉnh tương ứng với đối tác quốc tế. Lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ còn lại vẫn là nguồn cung hàng hóa cho thị trường carbon trong nước.
Sàn giao dịch carbon trong nước đã đi vào vận hành thí điểm, đánh dấu bước chuyển từ xây dựng khung pháp lý sang tổ chức thị trường thực tế. Tuy nhiên, để thị trường phát triển, các chuyên gia cho rằng cần thúc đẩy thanh khoản, đồng thời doanh nghiệp cầnnâng cao năng lực đo lường, báo cáo, thẩm định và khả năng nhận diện giá trị từ hoạt động giảm phát thải...
Cộng đồng Hiệu quả năng lượng Việt Nam, thuộc Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 (VNEEP3) đã từng bước trở thành diễn đàn kết nối, chia sẻ tri thức, lan tỏa các mô hình, giải pháp và kinh nghiệm thực tiễn, góp phần thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sử dụng năng lượng trong công nghiệp...
Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững...
Từ pin mặt trời, tua-bin gió đến pin xe điện và công nghệ hydro, nhiều công nghệ đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi năng lượng lại sử dụng một nhóm hóa chất được gọi là “hóa chất vĩnh cửu” (PFAS). Đây là những chất có khả năng tồn tại hàng nghìn năm trong môi trường và đã được cảnh báo về những tác động tiềm ẩn đối với sức khỏe con người…
Các khoản đầu tư mới của ACIAR (trị giá 3,3 triệu đô la Úc) hỗ trợ cộng đồng ven biển và ven sông của Việt Nam nâng cao sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu và hòa nhập xã hội...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong tháng 8/2026, Thanh Hóa sẽ hoàn thành kiểm tra 22 dự án nhà ở xã hội trên địa bàn, tập trung rà soát việc mua bán không đúng đối tượng, sử dụng sai mục đích và những tồn tại trong quản lý, vận hành chung cư.