Ngày 11/2, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm biên độ tỷ giá từ /-3% xuống /-1% và nới tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 18.932 VND/USD lên 20.693 VND/USD. Bước điều chỉnh tỷ giá “vô tiền khoáng hậu” này có ý nghĩa như thế nào đến việc ổn định thị trường ngoại hối?
“Tỷ giá thực”
Với động thái này, tỷ giá chính thức đang giao dịch tối đa là 19.500 VND/USD được nâng lên 20.900 VND/USD. Và mỗi USD đắt hơn so với trước đó một ngày là 1.400 VND, tăng tương ứng 7,17%.
Còn nếu so với một năm trước, lúc tỷ giá bình quân liên ngân hàng là 18.544 VND/USD và biên độ tỷ giá là /-3%, tỷ giá chính thức được phép mua bán tối đa là 19.100 VND/USD thì đồng USD hiện nay đã tăng giá tới 9,42%! Hay nói cách khác, VND đã bị giảm giá trị chừng đó phần trăm sau một năm so với đồng USD.
Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, bên cạnh một số yếu tố hỗ trợ tốt như giải ngân FDI, ODA khá mạnh, kiều hối dồi dào…, thì đợt điều chỉnh này là phù hợp với tín hiệu thị trường. Cùng đó, việc thu hẹp biên độ giao dịch cũng như hướng tới cơ chế điều hành tỷ giá liên ngân hàng linh hoạt thay vì kéo dài cố định như trước đây sẽ giúp cho Ngân hàng Nhà nước chủ động ổn định thị trường ngoại hối hơn.
Còn giới kinh doanh thì sao? Giám đốc ban vốn một ngân hàng lớn nói: “Chúng tôi không bất ngờ với đợt điều chỉnh này vì mọi người đều nói với nhau rằng: không trước thì sau Tết, Ngân hàng Nhà nước phải điều chỉnh tăng tỷ giá”.
Theo ông này, với mức điều chỉnh lớn như vậy (9,42% so với một năm trước) là hoàn toàn phụ thuộc vào sự đánh giá của Ngân hàng Nhà nước và như thế, Ngân hàng Nhà nước đã nhận ra đó mới là “tỷ giá thực”. Điều này cũng đảm bảo lợi ích cho cả nền kinh tế, từ lợi ích doanh nghiệp đến việc bảo toàn quỹ dự trữ ngoại hối.
Trên thực tế, sau khi Ngân hàng Nhà nước “chỉnh” một USD lên 20.900 đồng thì đó cũng là con số mà các ngân hàng đang giao dịch trong nhiều ngày qua. Và điều quan trọng hơn, nếu mức giá này đúng là “vùng mục tiêu” của thị trường thì ngân hàng và doanh nghiệp đã có thể nghĩ đến việc hạch toán tỷ giá đúng như mình giao dịch và tiến tới loại bỏ bất cập “cơ chế hai giá” đang nhức nhối hiện nay.
Nhìn từ góc độ an toàn dự trữ ngoại hối, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị LienVietBank cho rằng, hành động này của Ngân hàng Nhà nước vừa thỏa mãn thị trường vừa bảo toàn dự trữ ngoại hối. Năm 2008, dự trữ ngoại hối trên 20 tỷ USD nhưng do kìm nén giá trị VND so với USD, Ngân hàng Nhà nước đã phải bán ngoại tệ ra thị trường nhiều hơn và theo một số thông tin chưa chính thức, dự trữ ngoại hối hiện chỉ tương đương 13 tỷ USD, thậm chí còn thấp hơn.
Liên quan đến thông tin nói trên, một số ý kiến lo ngại nợ quốc gia sẽ tăng, nhưng một lãnh đạo Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ Quốc gia trấn an rằng: nếu Chính phủ vay nợ quốc gia thì Bộ Tài chính phải đứng ra trả và nguồn thu được lấy từ xuất khẩu dầu thô và một số tài nguyên khác chứ không phải lấy tiền đồng mua USD ở thị trường để trả.
Hiện nay, xuất khẩu dầu thô đang được giá và đó là một thuận lợi trong việc giải quyết vấn đề nợ quốc gia.
Lo vẫn còn
Liệu bước điều chỉnh tỷ giá “vô tiền khoáng hậu” này đã hoàn toàn là giải pháp căn cơ để bình ổn thị trường ngoại hối?
Giám đốc ban vốn một ngân hàng lớn nêu câu hỏi: “Ai cũng biết, tỷ giá là mức giá. Nếu giá cao, sẽ làm tăng cung và giảm cầu. Nhưng tăng cung và giảm cầu đến mức nào là phù hợp khi mà cầu thì lúc nào cũng có và lớn, khi mà kim ngạch nhập khẩu năm 2010 đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với 2009?”. Vì thế, nếu cầu lớn thì dù có nâng tỷ giá lên cao hơn nữa, người mua vẫn phải mua, nhất là những danh mục hàng hóa thiết yếu cho sản xuất. Ông này cho rằng, phải có các biện pháp tác động mạnh đến cung và cầu ngoại tệ mới là yếu tố quan trọng.
Thứ hai, sự khác biệt của sự điều chỉnh lần này so với trước là giảm biên độ từ /-3% xuống /-1%. Có lẽ, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, cách thức này sẽ kiếm soát được mức độ biến động của tỷ giá, nhưng thực tế chưa hẳn như vậy, vì vấn đề chính của tỷ giá trong thời gian qua là nằm trong hay ngoài biên độ chứ không phải sự rộng hẹp của biên độ. Hơn nữa, một khi giữa thị trường và điều hành chưa chung một con đường thì “cơ chế hai giá” vẫn tiếp tục. Và những biểu hiện doanh nghiệp mua USD ở ngân hàng nhận về hóa đơn thanh toán 20.900 đồng/USD nhưng phần chênh lệch cao hơn thì đưa thẳng tiền mặt cho ngân hàng vẫn không hề xa lạ.
Theo ông Hưởng, song hành với điều chỉnh nói trên, Ngân hàng Nhà nước nên quy định lãi suất tiền gửi USD thật thấp nhằm chống tích trữ, đầu cơ. Cụ thể, hiện nay lãi suất USD khoảng 7%/năm, cộng với mức tăng giá USD mỗi tháng khoảng 2%, như vậy, một năm sau, người gửi USD sẽ lãi hơn rất nhiều lần so với gửi nội tệ và họ sẽ tích trữ, thậm chí rút VND mua USD.
Ngược lại, nếu quy định lãi suất tiền gửi USD thấp, người dân và tổ chức kinh tế sẽ chọn VND. Cũng có ý kiến phản biện rằng, kể cả khi nắm giữ USD không có lãi nhưng với thực trạng “lạm phát ỳ” năm nọ đến năm kia như ở Việt Nam thì giữ USD vẫn bảo toàn được giá trị tài sản hơn là giữ VND.
Ông Hưởng cho rằng, lãi suất tiền gửi VND hiện nay đã được bao hàm lạm phát trong đó và nên hướng tới việc luôn đảm bảo lãi suất tiền gửi VND phải thực dương, còn lãi suất USD thì không. Đó cũng là lộ trình hướng tới chống Đô la hóa trong tương lai. Biện pháp thứ hai, là khuyến khích tổ chức kinh tế, người dân gửi USD vào ngân hàng và để họ sử dụng nguồn ngoại tệ này như tài sản thế chấp để vay VND. Như vậy, người dân không những bảo toàn được giá trị tài sản mà vẫn được sinh lời.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa giải thích những thông tin phản ánh chưa đúng các quy định tại dự thảo Thông tư về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng...
Để thanh toán QR xuyên biên giới phát triển theo chiều rộng và đi vào chiều sâu, kết nối hạ tầng mới chỉ là bước đầu; yêu cầu tiếp theo là mở rộng điểm chấp nhận, gia tăng giao dịch và tạo giá trị cho nền kinh tế. a/b lược ghi ý kiến của cơ quan quản lý và các thành viên thị trường tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” về định hướng và giải pháp thúc đẩy phương thức thanh toán này trong thời gian tới.
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.
Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.
Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) cảnh báo nhà đầu tư và người dân về việc một số đối tượng đang giả mạo HOSE, sử dụng trái phép tên, hình ảnh và logo của HOSE.