Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/3, trong tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 67,16 tỷ USD, giảm 24,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,3%; nhập khẩu tăng 26,3%.
Cụ thể, về xuất khẩu, trong tháng 2/2026 đạt 33,06 tỷ USD, giảm 23,7% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 6,44 tỷ USD, giảm 33,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 26,62 tỷ USD, giảm 21,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 5,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 24,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 17,0%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 15,96 tỷ USD, giảm 12,0%, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 60,4 tỷ USD, tăng 30,1%, chiếm 79,1%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026 có 13 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 57,4%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 68,55 tỷ USD, chiếm 89,8%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 5,8 tỷ USD, chiếm 7,6%; nhóm hàng thủy sản đạt 1,72 tỷ USD, chiếm 2,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 0,29 tỷ USD, chiếm 0,4%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 đạt 34,1 tỷ USD, giảm 24,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,55 tỷ USD, giảm 27,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,55 tỷ USD, giảm 23,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 4,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 19,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,47 tỷ USD, giảm 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 56,87 tỷ USD, tăng 42,2%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026 có 16 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 77,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 50,2%).
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 74,67 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 4,67 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 23,8 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 31,9 tỷ USD.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 20,4 tỷ USD tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 6,7 tỷ USD, tăng 6,5%; xuất siêu sang Nhật Bản 0,3 tỷ USD, giảm 43,1%; nhập siêu từ Trung Quốc 20,9 tỷ USD, tăng 35,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 6,5 tỷ USD, tăng 41,5%; nhập siêu từ ASEAN 2,6 tỷ USD, tăng 20,7%.
Với kết quả trên, tháng 2/2026 nhập siêu 1,04 tỷ USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,98 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,77 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 3,52 tỷ USD.




Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 30/7, giá xăng dầu trong nước biến động mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định tiếp tục chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 500 - 1.000 đồng/lít…
Nguồn nguyên liệu rừng trồng đang phân bổ chưa hợp lý, khi phần lớn gỗ được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén thay vì phục vụ chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Các doanh nghiệp cho rằng nếu không sớm tổ chức lại thị trường nguyên liệu, ngành gỗ Việt Nam sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững...
Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.