Hạ dự báo tăng trưởng và nâng dự báo lạm phát là điểm chung của các báo cáo kinh tế được các tổ chức tài chính quốc tế phát hành mới đây. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách ứng phó với những biến động có thể xảy ra trong tương lai...
Thế giới đang đối đầu với "Cuộc chiến lạm phát".
“Cuộc chiến giá cả” là tựa đề Báo cáo Triển vọng tăng trưởng kinh tế được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) phát hành ngày 8/6. Theo đó, OECD đã nâng gấp đôi mức dự báo lạm phát trong nhóm 38 nước thành viên lên 8,5%, đánh dấu mức cao nhất kể từ năm 1988. Đáng chú ý, một số quốc gia sẽ phải vật lộn với “cuộc chiến” lạm phát khi chỉ số giá dự kiến tăng tới 72% với Thổ Nhĩ Kỳ, 62,1% với Argentina hay 15,6% tại Lithuania…
Trong khi rủi ro lạm phát gia tăng, OECD lại hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu trong năm 2022 xuống 3%, giảm mạnh so với mức 4,5% được đưa ra trong dự báo hồi tháng 12/2021.
Điều đáng nói, chỉ trước đó một ngày, Báo cáo triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra cũng không mấy sáng sủa. Ngân hàng này đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2022 thêm 1,2 điểm phần trăm, xuống còn 2,9% (thay vì 4,1% như báo cáo trước), đồng thời cảnh báo nguy cơ nhiều quốc gia có thể rơi vào suy thoái nghiêm trọng.
Theo Chủ tịch WB David Malpass, cuộc xung đột ở Ukraine, Trung Quốc phong tỏa phòng, chống dịch Covid-19, cùng tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và nguy cơ lạm phát tăng chính là những nguyên nhân chính kìm hãm tăng trưởng.
Tương tự, hồi tháng 4/2022, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng hạ dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 1 điểm % xuống mức 3,6% trong khi lạm phát được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian dài hơn nhiều so với dự báo trước đây.
“Điều này cho thấy những khó khăn nhất định của nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam cần có kế hoạch chuẩn bị ứng phó với những biến động của nền kinh tế toàn cầu trong thời gian tới”, ông Francois Painchaud, Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam, khuyến nghị.
VIỆT NAM PHỤC HỒI NHƯNG VẪN CÒN RỦI RO
Liên quan đến Việt Nam, theo đánh giá của IMF, mặc dù Việt Nam có cú sốc lớn nhưng đã duy trì thành công sự ổn định về tài khóa, cán cân đối ngoại và ổn định tài chính.
Trong suốt đại dịch, Việt Nam đã ban hành các chính sách tài khóa hỗ trợ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp thông qua việc giảm, giãn thuế và phí, đồng thời tăng chi thường xuyên và chi đầu tư.
Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện cắt giảm lãi suất, yêu cầu các ngân hàng giảm hoặc miễn lãi suất, đồng thời cho phép tái cơ cấu lại nợ nhưng giữ nguyên nhóm nợ và trích lập dự phòng. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, đây là yếu tố cần thiết để giúp các ngân hàng vượt qua khủng hoảng một cách an toàn và ngăn chặn sự thắt chặt tín dụng.
Đặc biệt, việc ban hành Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế được đánh giá là kịp thời và phù hợp để thúc đẩy sự phục hồi kinh tế. Theo đó, các tổ chức quốc tế tin rằng tăng trưởng kinh tế năm 2022 của Việt Nam vẫn trên 6%.
“Tuy nhiên, bên cạnh những dự báo lạc quan, rất cần nhìn nhận một thực tế là khó khăn, thách thức đang ngày càng lớn khi trong bối cảnh bức tranh kinh tế - chính trị quốc tế đang có những biến động rất lớn”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương nhấn mạnh.
Chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ 4 diễn ra mới đây, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup cho rằng, ngoại trừ một số ngành có tốc độ tăng trưởng tốt, tiệm cận với tốc độ trước dịch, hầu hết các ngành còn lại chưa về mức độ tăng trưởng trước khi Covid-19 diễn ra.
“Đáng kể như hiện nay bất động sản đang gặp thách thức lớn do những tác động từ chính sách và vốn tín dụng trong ngắn hạn. Sự khó khăn của ngành này đã dẫn truyền sang các ngành như xây dựng và vật liệu xây dựng, ngân hàng…”, Chủ tịch FiinGroup nhận định.
Cụ thể, CEO FiinGroup cảnh báo, cho dù ngành ngân hàng, tài chính vẫn phát triển tốt ở thời điểm này nhưng những khó khăn mà ngành bất động sản hiện đối mặt có thể làm thay đổi bức tranh của ngành ngân hàng trong 2-3 năm tới đây.
Đặc biệt, theo TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, mặc dù lạm phát trong những tháng đầu năm được kiểm soát nhưng áp lực lạm phát những tháng còn lại của năm 2022 và năm 2023 là rất lớn. “Trong đó, có 3 nhóm chính gây áp lực lạm phát đối với kinh tế Việt Nam trong thời gian tới”, ông Lâm nhấn mạnh.
Thứ nhất, sự đứt gãy chuỗi cung ứng sẽ khiến giá cả nguyên, vật liệu sản xuất nhập khẩu từ bên ngoài tăng do thiếu hụt nguồn cung trước xung đột Nga – Ukraine và chiến lược zero Covid-19 của Trung Quốc, đẩy chi phí sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo leo thang.
Thứ hai, giá xăng dầu thế giới tăng cao kỷ lục và lạm phát nhiều quốc gia trên thế giới lập đỉnh trong nhiều năm dẫn tới những tác động xấu tới giá xăng dầu trong nước, từ đó thiết lập mặt bằng giá mới cao hơn trong nền kinh tế.
Thứ ba, tổng cầu tăng đột biến trong bối cảnh đứt gãy chuỗi cung ứng cũng như Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô 350 nghìn tỷ đồng.
CẦN CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG
Trước “vòng quay” chậm lại kinh tế toàn cầu và những rủi ro, bất định mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt, ông Francois Painchaud cho rằng, trong ngắn hạn, Việt Nam cần hoạch định chính sách mau lẹ, chủ động điều chỉnh quy mô và cấu phần hỗ trợ chính sách để phù hợp với tốc độ phục hồi.
Nếu rủi ro tăng trưởng chậm lại trở thành hiện thực khi Việt Nam phải đối phó với áp lực lạm phát, chính sách tài khóa nên đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên mà không cần đến sự hỗ trợ thêm của chính sách tiền tệ.
“Cho đến nay, chính sách tiền tệ đã hỗ trợ một cách thích hợp nhưng cần phải ngày càng cảnh giác với rủi ro lạm phát. Nếu áp lực lạm phát kéo dài xuất hiện, Ngân hàng Nhà nước nên thắt chặt vị thế chính sách tiền tệ”, đại diện IMF đề xuất.
Đặc biệt, trước cú sốc về tài chính – tiền tệ có thể xảy ra, IMF khuyến nghị Việt Nam cần xây dựng vùng đệm tài khóa để tăng khả năng chống chịu. Việc áp dụng Basel II là chìa khóa để nâng cao năng lực quản lý rủi ro và khả năng xử lý thua lỗ.
“Sử dụng chính sách tiền tệ đúng liều lượng, hợp lý, không quá chú trọng vào chính sách tiền tệ để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, vì hỗ trợ tín dụng và hạ lãi suất cho vay dẫn tới gia tăng lạm phát và rủi ro cho hệ thống ngân hàng”, TS. Nguyễn Bích Lâm nói.
Ngoài ra, có thể cần phải tăng vốn cho các ngân hàng do chất lượng tài sản giảm sút kể từ đầu đại dịch. Để tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch tăng vốn, cần cân nhắc các đợt phát hành vốn cổ phần, bao gồm cả nâng giới hạn sở hữu nước ngoài và giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các ngân hàng thương mại nhà nước.
Còn theo TS. Nguyễn Bích Lâm, Chính phủ cần kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, rà soát bãi bỏ các quy định không hợp lý nhằm cắt giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng thúc đẩy tổng cung, giảm áp lực lạm phát.
Trong bối cảnh đứt gãy chuỗi cung ứng, các nước thực hiện lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây đối với Nga làm trầm trọng thêm thiếu hụt nguồn cung, ông Lâm gợi ý Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp cần đa dạng nguồn cung; đảm bảo nguồn cung của từng nhóm nguyên, vật liệu của mỗi ngành không phụ thuộc vào một thị trường, một khu vực. Bộ Công Thương chủ trì, cùng với các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm nguồn cung và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
“Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ, thực hiện hài hòa chính sách tài khóa và tiền tệ. Sử dụng chính sách tiền tệ đúng liều lượng, hợp lý, không quá chú trọng vào chính sách tiền tệ để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, vì hỗ trợ tín dụng và hạ lãi suất cho vay dẫn tới gia tăng lạm phát và rủi ro cho hệ thống ngân hàng”, ông Lâm khuyến nghị.
WB: Việt Nam cần nhiều hành động để giảm áp lực lạm phát
19:44, 13/06/2022
Giá dầu có thể tạo áp lực lạm phát đến mức nào trong năm 2022?
Bố trí nhiều trạm dừng nghỉ, trạm tạm trên cao tốc Bắc Nam phía Đông phục vụ dịp lễ
Nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9/2025, Bộ Xây dựng vừa cung cấp thông tin chi tiết về vị trí các trạm dừng nghỉ, trạm tạm, trạm cấp xăng dầu cũng như các nút giao ra vào tuyến cao tốc Bắc Nam phía Đông, trên các đoạn tuyến đã và sẽ được đưa vào khai thác dịp lễ.
Phó Thủ tướng giao hai bộ xem xét hỗ trợ vốn cho dự án hạ tầng tại Đồng Nai
Phó Thủ tướng giao các bộ, ngành xem xét đề xuất của tỉnh Đồng Nai về hỗ trợ vốn cho các dự án giao thông liên kết vùng và kinh phí sửa chữa, nâng cấp các tuyến quốc lộ xuống cấp…
Ba cảng biển Việt Nam lọt nhóm đầu cảng xử lý hàng
container lớn nhất thế giới
Ba cảng biển Việt Nam ở Hải Phòng, TP.HCM và Cái Mép lọt vào “Top” 50 cảng biển xử lý hàng container lớn nhất thế giới, theo bình chọn mới nhất của tạp chí DynaLiners Millionaires thuộc Công ty tư vấn vận tải biển DynaLiners có trụ sở tại Hà Lan...
Quảng Trị khai thác lợi thế logistics cho mục tiêu xây dựng khu thương mại tự do
Quảng Trị đang nỗ lực khai thác lợi thế logistics của mình với mục tiêu xây dựng khu thương mại tự do (FTZ), nhằm tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Với vị trí chiến lược nằm ở cửa ngõ hành lang kinh tế Đông - Tây, cùng với hệ thống cửa khẩu quốc tế và cảng biển nước sâu, Quảng Trị có tiềm năng lớn để phát triển thương mại xuyên biên giới và logistics.
TP.HCM tăng cường bảo đảm an toàn đường sắt, xử lý dứt điểm tình trạng lối đi tự mở
Tăng cường bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, xử lý dứt điểm tình trạng lối đi tự mở qua ray, nhất là tại các “điểm nóng” và tình trạng lấn chiếm đất hành lang an toàn đường sắt, là những yêu cầu tại văn bản chỉ đạo mới nhất của Ủy ban nhân dân TP.HCM...
Sáu giải pháp phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển năng lượng xanh, sạch nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Ông Nguyễn Ngọc Trung chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về sáu giải pháp để phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng nói chung và các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới nói riêng…
Nhân lực là “chìa khóa” phát triển điện hạt nhân thành công và hiệu quả
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nhấn mạnh vấn đề quan trọng nhất khi phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam là nguồn nhân lực, xây dựng năng lực, đào tạo nhân lực giỏi để tham gia vào triển khai, vận hành dự án...
Phát triển năng lượng tái tạo, xanh, sạch: Nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Quốc hội đã chốt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 8% cho năm 2025 và tăng trưởng hai chữ số cho giai đoạn 2026 – 2030. Để đạt được mục tiêu này, một trong những nguồn lực có tính nền tảng và huyết mạch chính là điện năng và các nguồn năng lượng xanh, sạch…
Nhà đầu tư điện gió ngoài khơi tại Việt Nam vẫn đang ‘mò mẫm trong bóng tối’
Trả lời VnEconomy bên lề Diễn đàn năng lượng xanh Việt Nam 2025, đại diện doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo nhận định rằng Chính phủ cần nhanh chóng ban hành các thủ tục và quy trình pháp lý nếu muốn nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào các dự án điện gió ngoài khơi của Việt Nam...
Tìm lộ trình hợp lý nhất cho năng lượng xanh tại Việt Nam
Chiều 31/3, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam chủ trì, phối hợp với Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức Diễn đàn Năng lượng Việt Nam 2025 với chủ đề: “Năng lượng xanh, sạch kiến tạo kỷ nguyên kinh tế mới - Giải pháp thúc đẩy phát triển nhanh các nguồn năng lượng mới”...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: