Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 23/2026/TT-BXD quy định cơ chế, chính
sách quản lý giá dịch vụ thuộc lĩnh vực hàng không dân dụng, có hiệu
lực từ ngày 1/7/2026, thay thế Thông tư số 44/2024/TT-BGTVT.
Theo đó, Thông tư quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng đối với tổ chức, cá
nhân kinh doanh, cung cấp dịch vụ thuộc lĩnh vực hàng không dân dụng; tổ chức,
cá nhân sử dụng dịch vụ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công
tác quản lý giá dịch vụ hàng không dân dụng.
Theo quy định, Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm thẩm định phương án
giá, báo cáo Bộ Xây dựng ban hành văn bản định giá đối với các dịch vụ như cất
cánh, hạ cánh tàu bay; điều hành bay đi, đến; phục vụ hành khách tại cảng hàng
không; điều hành bay qua vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý. Đồng thời, thực hiện thẩm định đối với một số dịch vụ được định khung giá và
định giá tối đa.
Đối với dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
cất cánh, hạ cánh tại cảng hàng không Việt Nam là đơn vị thu tiền sử dụng dịch
vụ. Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyến bay hạ cánh tại các cảng hàng không Việt
Nam là đối tượng thanh toán. Mức giá được tính cho một lượt tàu bay thực hiện
hạ cánh tại cảng hàng không.
Thông tư quy định đối với các chuyến bay đến các cảng hàng không nhóm A tại
vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn như Côn Đảo, Điện Biên, Cà
Mau, Rạch Giá, mức thu chỉ bằng 60% so với các cảng hàng không nhóm B.
Về chính sách ưu đãi, các chuyến bay đào tạo, huấn luyện phi công không kết
hợp khai thác thương mại tại Việt Nam được miễn tiền sử dụng dịch vụ điều hành
bay đi, đến và dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay trong 36 tháng đầu kể từ ngày
cơ sở đào tạo thực hiện chuyến bay đầu tiên.
Đối với các hãng hàng không Việt Nam lần đầu tham gia khai thác thị trường
vận chuyển hàng không, mức giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay và dịch vụ
điều hành bay đi, đến được áp dụng bằng 50% mức giá do Bộ Xây dựng quyết định
trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày bắt đầu khai thác chuyến bay đầu tiên.
Đáng chú ý, Thông tư quy định không thu tiền sử dụng dịch vụ đối với các chuyến bay
chuyên cơ, chuyến bay công vụ, chuyến bay tìm kiếm cứu nạn, vận chuyển hàng
viện trợ nhân đạo, cứu trợ lũ lụt, thiên tai và các nhiệm vụ nhân đạo khác.
Đối với dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không, trẻ em dưới 2 tuổi
được miễn thu phí; trẻ em từ đủ 2 tuổi đến dưới 12 tuổi được áp dụng mức thu
bằng 50% mức giá quy định.
Trong lĩnh vực vận chuyển hành khách hàng không nội địa thường lệ hạng phổ
thông cơ bản, Thông tư quy định giá tối đa theo 5 nhóm đường bay, gồm: nhóm dưới
500 km; từ 500 km đến dưới 850 km; từ 850 km đến dưới 1.000 km; từ 1.000 km đến
dưới 1.280 km và từ 1.280 km trở lên. Mức giá tối đa không bao gồm thuế giá trị
gia tăng, phí bảo đảm an ninh hành khách, hành lý, giá dịch vụ phục vụ hành
khách tại cảng hàng không và các dịch vụ tăng thêm.
Bộ Xây dựng đồng thời yêu cầu các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ thực hiện kê
khai, niêm yết và công khai thông tin về giá theo quy định; đồng thời chấp hành
hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Theo quy định tại Thông tư, các hãng hàng không có tổng số tiền thanh toán hàng tháng đối với dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay và điều hành bay đi, đến sẽ được hưởng chính sách giảm giá theo quy mô sử dụng dịch vụ. Đối với các chuyến bay quốc tế, mức ưu đãi dao động từ 1,5% đến 5%, tương ứng với giá trị hóa đơn từ trên 125.000 USD đến từ 1,5 triệu USD trở lên. Cụ thể, hóa đơn từ trên 125.000 USD đến dưới 250.000 USD được giảm 1,5%; từ 250.000 USD đến dưới 750.000 USD giảm 2,5%; từ 750.000 USD đến dưới 1,5 triệu USD giảm 3,5%; và từ 1,5 triệu USD trở lên được giảm 5%.
Đối với các chuyến bay nội địa, mức giảm giá cũng được áp dụng theo bậc thang, từ 1,5% đến 5% dựa trên tổng giá trị hóa đơn thanh toán hàng tháng. Theo đó, hóa đơn từ trên 5 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng được giảm 1,5%; từ 10 tỷ đồng đến dưới 15 tỷ đồng giảm 2,5%; từ 15 tỷ đồng đến dưới 30 tỷ đồng giảm 3,5%; và từ 30 tỷ đồng trở lên được giảm 5%.