Trong các năm này, tăng trưởng tín dụng liên tục cao hơn huy động từ 4 - 5,5 điểm phần trăm/năm, tạo áp lực triền miên lên cân đối nguồn vốn. Bước sang năm 2026, tình trạng trên vẫn chưa được cải thiện đáng kể và thật khó để tiên lượng được điều gì về an toàn hệ thống, nhất là trong bối cảnh tăng trưởng 2 chữ số...
Trong khi tỷ trọng huy động vốn dưới 12 tháng thường xuyên duy trì ở mức 85%–88,5% thì quy mô cho vay trung hạn và dài hạn không ngừng tăng. Sự lệch pha này khiến phần thiếu hụt vốn trung và dài hạn ngày càng mở rộng hàng năm, riêng năm 2025 tăng tới 33,3% so với năm trước.
Xét về quy mô, tín dụng trung hạn tăng 29,11% năm 2023 và 26,13% năm 2025; tín dụng dài hạn sau khi giảm xuống 5,62% năm 2023 đã phục hồi lên 18,31% năm 2024 và 26,85% năm 2025. Điều này cho thấy nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn của nền kinh tế gia tăng rõ rệt trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19.
Đáng chú ý, sự mở rộng của tín dụng trung và dài hạn diễn ra khi nguồn vốn huy động dài hạn tăng chậm và quy mô còn hạn chế.
Trên thực tế, các ngân hàng thực hiện chuyển hóa kỳ hạn trong giới hạn quy định, tức sử dụng một phần vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung và dài hạn, đồng thời bổ sung bằng các nguồn vốn khác như phát hành giấy tờ có giá hoặc vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, khi đặt trong tương quan với cơ cấu huy động chủ yếu là ngắn hạn dưới 12 tháng, trong khi nhu cầu tín dụng tập trung vào trung và dài hạn, sự lệch pha kỳ hạn này trở thành vấn đề mang tính cấu trúc.
Điều này cho thấy rủi ro kỳ hạn vẫn hiện hữu ở cấp độ hệ thống, phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Nếu tình trạng lệch pha giữa nguồn vốn và sử dụng vốn tiếp tục kéo dài, đặc biệt khi nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư dài hạn tăng mạnh những năm tới, rủi ro này sẽ không chỉ tích tụ mà còn có thể khuếch đại trong các giai đoạn biến động của lãi suất và thanh khoản. Khi đó, chỉ cần một cú sốc cũng có thể tạo áp lực đáng kể lên sự ổn định của hệ thống...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12 - 2026 phát hành ngày 23/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-12-2026.html
Một nghiên cứu của Fed chỉ ra rằng việc giá vàng tăng mạnh trong những năm gần đây chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu từ khu vực tư nhân, mà phần lớn dự trữ vàng chính thức lại nằm trong tay các quốc gia chưa từng mua thêm vàng trong hơn 50 năm qua...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Tính đến 13 giờ ngày 9/9, giá mua, bán vàng miếng SJC và vàng nhẫn “4 số 9” giảm phổ biến 1,2 triệu đồng/lượng. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế, phí), chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thu hẹp còn khoảng 5,21 triệu đồng/lượng, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 9...
"Nếu đồng yên tiếp tục mạnh lên, quá trình giảm đòn bẩy từ từ có thể biến thành một đợt tháo chạy nhanh chóng và tự khuếch đại", một. chiến lược gia nhận định....
Hơn một triệu thẻ tín dụng, top 3 toàn thị trường về chi tiêu và quy mô giao dịch vượt 5 tỷ USD tiếp tục khẳng định vị thế top đầu của VIB trên thị trường thẻ Việt Nam.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.