Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ rác thải nhựa đại dương. Việt Nam hiện đang nỗ lực thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và hoàn thành các cam kết trong khuôn khổ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP).
Tại Hội thảo “Từ thí điểm đến chính sách: Giải quyết rác thải nhựa không thể tái chế thông qua đồng xử lý trong ngành Xi măng” do Viện Nghiên cứu SINTEF (Na Uy), Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, phối hợp với Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) tổ chức mới đây, các chuyên gia đã cùng nhìn lại những kết quả mà Dự án “Biến rác thải nhựa đại dương thành cơ hội trong nền kinh tế tuần hoàn” (OPTOCE), do Chính phủ Na Uy tài trợ, đã đạt được; đồng thời, thảo luận về tiềm năng nhân rộng giải pháp đồng xử lý để giảm thiểu rò rỉ nhựa ra môi trường, giảm sự phụ thuộc vào than của ngành xi măng và cắt giảm khí nhà kính.
Dự án OPTOCE nằm trong cam kết của Na Uy về thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững 14.1 về giảm ô nhiễm biển vào năm 2025.
Việt Nam đang đối mặt với thách thức kép: lượng rác thải nhựa tăng nhanh và phát thải carbon ngày càng cao. Quá trình đô thị hóa và tiêu dùng gia tăng đã khiến lượng nhựa khó tái chế ngày tăng mạnh, trong đó nhiều loại nhựa có nguy cơ rò rỉ ra sông, biển đe dọa hệ sinh thái biển và sinh kế ven biển.
Đồng xử lý được đánh giá là một giải pháp có thể nhân rộng, bằng cách xử lý an toàn nhựa khó tái chế trong các lò nung xi măng, ngăn chặn rác thải nhựa đổ ra đại dương đồng thời thay thế nhiên liệu hóa thạch (than) trong sản xuất công nghiệp.
Tại Việt Nam, dự án khởi động từ năm 2019, với thí điểm thành công tại Nhà máy Xi-măng INSEE (Kiên Giang) năm 2021, sau đó mở rộng tại Xi-măng Xanh Lam Thạch (Quảng Ninh). Rác nhựa giá trị thấp từ các làng nghề Minh Khai (Hưng Yên) và Tràng Minh (Hải Phòng) đã được đồng xử lý hiệu quả, đạt tỷ lệ thay thế nhiệt từ 35–40%.
Đồng xử lý được đánh giá là một giải pháp có thể nhân rộng, bằng cách xử lý an toàn nhựa khó tái chế trong các lò nung xi măng, ngăn chặn rác thải nhựa đổ ra đại dương đồng thời thay thế nhiên liệu hóa thạch (than) trong sản xuất công nghiệp.
Đến nay, Na Uy đã và vẫn tiếp tục đầu tư cho chương trình phát triển nhằm giảm thiểu ô nhiễm nhựa và rác thải biển.
Ông Kåre Helge Karstensen, Trưởng nhóm khoa học và Giám đốc Dự án, cho biết cách đây hơn 6 năm, OPTOCE được khởi động như một sáng kiến khu vực, lúc đầu, được thực hiện ở 5 quốc gia, trong đó có Việt Nam, sau đó được mở rộng ra 8 quốc gia khắp châu Á.
"Thành công ngày hôm nay đã chứng minh rằng việc đồng xử lý nhựa không thể tái chế trong các lò nung xi măng không chỉ khả thi về mặt kỹ thuật, thân thiện với môi trường mà còn có thể mang lại tác động nhanh chóng và trên quy mô lớn," Giám đốc Dự án nhấn mạnh. "Bước tiếp theo là vượt ra khỏi giai đoạn thí điểm và tích hợp giải pháp này vào các khuôn khổ chính sách quốc gia để thúc đẩy thay đổi mang tính hệ thống."
Đại sứ Na Uy tại Việt Nam, bà Hilde Solbakken, chia sẻ: Na Uy coi ứng phó rác thải nhựa đại dương và biến đổi khí hậu là ưu tiên toàn cầu. Với kinh nghiệm hơn 30 năm sử dụng đồng xử lý, trong đó có việc thay thế tới 75% than đá bằng rác thải trong ngành xi măng, Na Uy cam kết đồng hành cùng Việt Nam nhân rộng mô hình này, đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP).
Theo PGS.TS. Lương Đức Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, tỷ lệ sử dụng nhiên liệu thay thế trong ngành xi măng hiện mới đạt khoảng 4%, trong khi mục tiêu quốc gia đặt ra là 15% vào năm 2025. Chuyên gia này chỉ ra nguyên nhân chính đến từ nhiều rào cản.
Thứ nhất, về chính sách và quy định, Việt Nam chưa có cơ chế “đối xử bình đẳng” giữa đồng xử lý rác và các phương pháp xử lý khác như đốt rác phát điện. “Thủ tục hành chính còn phức tạp, điển hình là yêu cầu làm lại báo cáo đánh giá tác động môi trường khi sử dụng nhiên liệu thay thế, khiến doanh nghiệp sản xuất xi măng mất nhiều thời gian và chi phí”, ông Long cho biết.
Đồng xử lý rác trong lò nung xi măng là giải pháp an toàn, hiệu quả nhất. Chúng tôi mong muốn Nhà nước sớm có chính sách ưu đãi, hỗ trợ chuyển giao công nghệ để nhân rộng mô hình này, biến rác thành "vàng đen", góp phần xây dựng Việt Nam xanh- sạch- đẹp".
Thứ hai, về kinh tế và tài chính, việc thiếu phí xử lý rác thải (tipping fee) là rào cản lớn nhất. Ở Việt Nam, tiêu hủy chất thải hầu như miễn phí, dẫn đến rác bị đưa thẳng ra bãi chôn lấp thay vì tái chế.
Chia sẻ điều này, ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam cũng nhấn mạnh nếu không có phí xử lý rác thải, rất khó để doanh nghiệp đồng xử lý có lợi nhuận. Trong khi tại châu Âu, phí xử lý là nguồn thu chính, giúp các nhà máy xi măng duy trì hoạt động bền vững”.
Thứ ba, về chuỗi cung ứng và logistics, nguồn rác thải ổn định là điều kiện then chốt để vận hành lò nung 24/7. Tuy nhiên, tại Việt Nam, rác sinh hoạt thường có nhiệt trị thấp 1.000 - 2.000 kcal/kg, không đạt chuẩn thay thế than 6.000 kcal/kg.
Theo ông Phạm Văn Diễn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu môi trường công nghệ cao Hòa Bình, "không phải rác nào cũng đưa vào lò nung xi măng được". Rác sinh hoạt cần được phân loại, sơ chế thành viên nén từ nhiên liệu có nguồn gốc từ rác thải (RDF) với nhiệt trị 5.000 - 7.000 kcal/kg. Tuy nhiên, nguồn rác hiện chưa ổn định, chi phí vận chuyển cao và thiếu cơ chế hỗ trợ khiến doanh nghiệp khó mở rộng quy mô.
“Đồng xử lý rác trong lò nung xi măng là giải pháp an toàn, hiệu quả nhất," TS. Long nhấn mạnh. "Chúng tôi mong muốn Nhà nước sớm có chính sách ưu đãi, hỗ trợ chuyển giao công nghệ để nhân rộng mô hình này, biến rác thành "vàng đen", góp phần xây dựng Việt Nam xanh - sạch - đẹp”.
Dự án hướng tới hỗ trợ Việt Nam loại trừ 97,5% mức tiêu thụ cơ sở các chất HCFC từ năm 2030 và giảm 10% mức tiêu thụ cơ sở các chất HFC từ năm 2029. Dự kiến dự án giúp cắt giảm lượng phát thải hàng năm lên tới 6,1 triệu tấn CO2 tương đương; góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050...
Dự án do UNESCO triển khai với nguồn tài trợ của Chính phủ Nhật Bản sẽ nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và tăng cường năng lực ứng phó thiên tai tại Nghệ An...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Thị trường carbon không chỉ là một công cụ chính sách, mà đang trở thành một không gian hợp tác và cạnh tranh mới của nền kinh tế toàn cầu. Việc tham gia sớm, chủ động và đúng hướng sẽ giúp Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp không chỉ thực hiện tốt các cam kết giảm phát thải mà còn tận dụng được các cơ hội phát triển mới trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Không cần đến tận hội chợ, chỉ với một thiết bị kết nối internet, người tiêu dùng có thể tham quan, tìm hiểu và mua sắm hàng trăm sản phẩm đặc sản Hà Tĩnh trên không gian số. Triển lãm trực tuyến ứng dụng công nghệ thực tế ảo đang mở ra kênh xúc tiến thương mại hiện đại, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số cho doanh nghiệp và cơ sở sản xuất địa phương.