Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT về việc công bố kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng- Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026. Kỳ công bố kịch bản nguồn nước được tính toán, đánh giá từ tháng 11/2025 đến tháng 6/2026.
KỊCH BẢN NGUỒN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG- THÁI BÌNH MÙA CẠN
Trên cơ sở hiện trạng, dự báo khí tượng thủy văn, xu thế diễn biến nguồn nước của 7 hồ chứa lớn, 30 hồ và cụm hồ chứa có dung tích từ 5 triệu m³ trở lên, cùng các tiểu lưu vực sông và tầng chứa nước dưới đất cho thấy, khả năng nguồn nước trên lưu vực sông Hồng- Thái Bình trong mùa cạn 2025-2026 được đánh giá ở trạng thái bình thường.
Nguồn nước cơ bản đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, thủy điện, công nghiệp và các yêu cầu về an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, đồng thời giảm thiểu rủi ro thiếu nước do khai thác và sử dụng không hiệu quả.
Đối với 7 hồ chứa lớn, tổng dung tích dự kiến đạt khoảng 27,6 tỷ m3 vào ngày 01/01/2026 trước thời kỳ đổ ải, giảm còn 24 tỷ m3 sau thời kỳ đổ ải ngày 01/03/2026, và dao động 22,1-22,6 tỷ m3 vào ngày 1/04/2026 đầu thời kỳ nắng nóng cao điểm.
Nguồn nước này cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, giao thông thủy, môi trường và phát điện. Tuy nhiên, trong trường hợp nhu cầu phát điện tăng cao vào các tháng 4-6/2026 hoặc khi xảy ra thiếu hụt nguồn điện khác, hồ chứa có nguy cơ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hạ du.
Trên các tiểu lưu vực sông như Đà, Lô- Gâm, Thao, Cầu- Thương và vùng Đồng bằng sông Hồng, nguồn nước cũng ở trạng thái bình thường. Một số khu vực cục bộ có nguy cơ thiếu nước do lượng mưa dự báo thiếu hụt trong các tháng 1, tháng 2 và 5/2026, đồng thời một số hồ nhỏ và công trình thủy lợi chưa đồng bộ cũng góp phần làm tăng nguy cơ này, ảnh hưởng chủ yếu đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.
Theo kịch bản, nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình cơ bản đáp ứng nhu cầu mùa cạn 2025-2026. Nguy cơ thiếu nước cục bộ có thể xảy ra ở một số tiểu lưu vực, hồ nhỏ và khu vực khai thác tập trung, đặc biệt trong các tháng nắng nóng cao điểm hoặc khi xuất hiện sự cố nguồn điện, ô nhiễm nước.
Do đó, việc vận hành hồ chứa linh hoạt, khai thác nước dưới đất hợp lý, sử dụng tiết kiệm nước và giám sát chặt chẽ các khu vực trọng điểm là cần thiết để đảm bảo cấp nước đầy đủ cho sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ, DỰ PHÒNG CHO CÁC THÁNG CUỐI MÙA CẠN
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các Bộ, ngành và địa phương chủ động lập kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, dự phòng cho các tháng cuối mùa cạn. Bộ Công Thương cần vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện lớn, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện, bảo đảm cân đối nguồn nước cho các mục tiêu sử dụng đa mục tiêu.
Lượng nước đổ ải năm 2026 được khuyến nghị từ 3,2 đến 3,7 tỷ m3, đồng thời duy trì sản lượng thủy điện theo dự kiến hoặc tăng nhưng không vượt mức trung bình giai đoạn 2015-2025 để đảm bảo khả năng đáp ứng đồng thời cho sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực và năng lượng.
Các địa phương cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tối ưu hóa khai thác nước từ hồ chứa, kênh mương, trạm bơm dã chiến, nạo vét, cải tạo công trình thủy lợi và vận hành hệ thống thủy lợi nội đồng để tăng hiệu quả sử dụng nước.
Vùng Đồng bằng sông Hồng cần đặc biệt chú trọng nâng cao khả năng lấy nước, kiểm soát xâm nhập mặn, tận dụng triều cường để tích trữ nước, đồng thời vận hành các hồ chứa thủy điện hỗ trợ gieo cấy Đông Xuân theo quy định, đảm bảo tiết kiệm và hợp lý.
Cục Quản lý tài nguyên nước và Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi có nhiệm vụ theo dõi, cập nhật Kịch bản nguồn nước, điều hòa và phân phối tài nguyên nước, báo cáo định kỳ và hướng dẫn địa phương triển khai các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Đối với các vùng có nguy cơ thiếu nước cục bộ, các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hưng Yên cần theo dõi diễn biến nguồn nước, chủ động cắt giảm diện tích gieo trồng, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, sử dụng các nguồn nước dự phòng và tăng cường tích trữ nước mưa. UBND cấp tỉnh cần rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, công trình thủy lợi để sử dụng nước tiết kiệm, đa mục tiêu, tránh thất thoát và bảo đảm lưu thông dòng chảy.
Đặc biệt, việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho vùng Đồng bằng sông Hồng là ưu tiên hàng đầu. Bộ Xây dựng và UBND các tỉnh rà soát, nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy nước sạch, đồng thời kiểm soát việc xả thải vào nguồn nước thô. Việc khai thác nước dưới đất cần được giám sát chặt chẽ, khẩn trương xây dựng danh mục vùng hạn chế khai thác, đồng thời kết hợp khai thác nước mặt, nước dưới đất và tích trữ nước mưa để đảm bảo nguồn nước liên tục, ổn định, an toàn cho nhân dân.
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
TKV đang triển khai nhiều giải pháp tiết kiệm tài nguyên, từ tái sử dụng nước thải mỏ đến cơ giới hóa, hiện đại hóa thiết bị khai thác. Các hoạt động này nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường, từng bước chuyển đổi sản xuất bền vững trong lĩnh vực khai khoáng…
Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý khuyến khích người dân được quyền chủ động chuyển đổi sang sử dụng phương tiện giao thông xanh; không quy định bắt buộc chủ phương tiện, người dân, doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng phương tiện thuần điện, phương tiện giao thông xanh...
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.