Thị trường đang bước vào mùa công bố kết quả kinh doanh quý 1/2026 với nhiều ước tính cho rằng tổng lợi nhuận toàn thị trường dù vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ nhưng mức tăng đã giảm so với quý trước. Trong khi đó, VN-Index vẫn đang "loay hoay" với diễn biến bất ổn từ địa chính trị bên ngoài, chưa thực sự quay lại nền tảng, nội tại vĩ mô trong nước.
Trong Talkshow Phố Tài chính mới đây, bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, kết quả kinh doanh quý 1/2026 của các doanh nghiệp niêm yết sẽ rất tích cực. Mức tăng trưởng kỳ vọng là khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước.
Tích cực hơn nữa là mức tăng trưởng không còn phân hóa mà khá đồng đều ở hầu hết các nhóm ngành.
Cụ thể, với ngân hàng, ACBS kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận hơn 20%/năm so với cùng kỳ năm trước, và là nhóm ngành nâng đỡ đà tăng trưởng lợi nhuận của thị trường.
Mặc dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước hiện đang có động thái kiểm soát chặt hơn tăng trưởng tín dụng trong năm 2026, tuy nhiên, dự báo hết Quý 1/2026, tăng trưởng tín dụng vẫn đạt khoảng 3% so với đầu năm và 20% so với năm trước.
Mức tăng trưởng này thậm chí còn tích cực hơn các năm trước, khi chúng ta thường gặp tình trạng tín dụng tăng tốc vào cuối năm và sau đó lại giảm tốc vào đầu năm. Ngoài ra, mặc dù lãi suất huy động các kỳ hạn đã tăng lên đáng kể, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng tăng lên, vì vậy khả năng NIM vẫn được duy trì, thậm chí mở rộng nhẹ. Hai yếu tố này sẽ hỗ trợ cho đà tăng lợi nhuận của ngành ngân hàng.
Nhóm thứ 2 là chứng khoán, ACBS kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận trên 40% nhờ giá trị giao dịch bình quân/ngày của quý 1/2026 tăng hơn 90% so với quý 1/2025 và 18% so với quý 4/2025. Bên cạnh đó, danh mục cho vay ký quỹ tiếp tục được mở rộng. Từ đó, những công ty chứng khoán không tập trung nhiều vào hoạt động tự doanh sẽ có thể ghi nhận kết quả lợi nhuận quý 1/2026 tích cực.
Nhóm thứ 3 là bất động sản, sẽ có sự phân hóa. Nhóm bất động sản khu công nghiệp tuy không khởi sắc kể từ khi có sự kiện thuế đối ứng vào tháng 4/2025 nhưng vẫn duy trì được sự tăng trưởng ổn định ở mức khoảng 10%/năm.
Nhóm bất động sản dân dụng dự báo kém khả quan hơn. Với những chính sách kiểm soát chặt hơn tín dụng cho bất động sản kể từ cuối năm 2025, và vai trò chi phối của VHM trong nhóm này (gần 90% lợi nhuận sau thuế của cả ngành), tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của nhóm này phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến lợi nhuận của VHM. Và trong môi trường lãi suất cho vay gia tăng, triển vọng của ngành bất động sản dân dụng sẽ không mấy tích cực.
Các nhóm bán lẻ, đầu tư công, vật liệu xây dựng ,… cũng được dự báo sẽ ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý 1/2026. Doanh số bán lẻ những tháng đầu năm 2026 đang tăng trưởng tích cực và quyết tâm đẩy mạnh đầu tư công của Chính phủ là những tiền đề hỗ trợ cho kết quả kinh doanh của các nhóm này.
Cuối cùng là nhóm dầu khí – tâm điểm của tháng 3 vừa qua. Giá xăng dầu tăng mạnh, vượt lên trên 100 USD/thùng trong những ngày qua do ảnh hưởng của tắc nghẽn nguồn cung liên quan tới chiến sự ở Trung Đông. Tuy nhiên, tác động của giá xăng dầu lên lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành dầu khí tương đối khác nhau.
Đối với nhóm thượng nguồn (khoan, khai thác dầu, xây dựng hạ tầng giàn khoan…) biến động của giá dầu gần như không tác động nhiều tới kết quả kinh doanh ngắn hạn của nhóm này. Hầu hết các hợp đồng dịch vụ đều ký trung hạn, và chỉ tăng giá khi xu hướng giá dầu neo cao là rõ rệt trong thời gian dài.
Trong khi đó, đối với các doanh nghiệp hạ nguồn (vận chuyển, lọc dầu, phân phối bán lẻ xăng dầu, phân bón…), giá dầu tăng trong thời gian qua sẽ hỗ trợ kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, lợi nhuận có thể không bền vững khi giá dầu giảm đột ngột, hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng làm ảnh hưởng tới sản lượng hàng hóa.
Theo bà Trang, những kết quả trên chưa phản ánh vào giá của các cổ phiếu. Lý do chủ yếu đến từ hoàn cảnh khách quan của thị trường hiện tại. Hầu hết mối quan tâm của nhà đầu tư đang xoay quanh diễn biến chiến sự ở Trung Đông và tình trạng giá dầu leo thang. Từ đó, nguy cơ các loại hàng hóa đồng loạt tăng giá và ảnh hưởng tới lạm phát toàn cầu.
Vì vậy, tâm lý phổ biến gần đây là các nhà đầu tư là giảm tỷ trọng cổ phiếu để kiểm soát rủi ro. Từ đó, thị trường tiếp tục điều chỉnh trước áp lực bán.
Ở vùng giá hiện tại, định giá của VN-Index đang ở ngưỡng trung vị P/E của 5 năm gần đây. Trong đó, những nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và có tác động chi phối lên đà tăng trưởng lợi nhuận của toàn thị trường như ngành ngân hàng, chứng khoán, bán lẻ, đầu tư công đều được dự phóng sẽ báo cáo kết quả kinh doanh rất tích cực trong quý 1/2026.
Vùng định giá của các cổ phiếu của các nhóm ngành này cũng đang ở vùng giá rất hợp lý cho tầm nhìn đầu tư trung – dài hạn. Vì vậy, thị trường vẫn đang bị chi phối chủ yếu bởi các vấn đề địa chính trị ở bên ngoài, thay vì tập trung nhìn nhận vào lợi nhuận quý I/2026 của các doanh nghiệp niêm yết. Dù lo ngại này là có cơ sở, tuy nhiên, không nên quá bi quan và bỏ lỡ các cơ hội đầu tư hấp dẫn.
Với vùng định giá hiện tại của VN Index (trung vị của 5 năm), chúng tôi cho rằng, đây là nền định giá phù hợp cho các quyết định đầu tư trung-dài hạn. Chúng ta đứng trước cả các cơ hội và thách thức. Cơ hội là dự báo về tăng trưởng lợi nhuận ở thời điểm hiện tại của các doanh nghiệp vẫn tương đối tích cực, triển vọng nâng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới, quyết tâm tăng trưởng của Chính phủ. Nhưng thách thức từ bên ngoài vẫn còn nhiều, cụ thể là rủi ro địa chính trị, nguy cơ lạm phát dẫn theo sự đảo chiều của chính sách tiền tệ toàn cầu…
Vì vậy, Giám đốc Phân tích ACBS cho rằng, trong bối cảnh hiện tại, nhà đầu tư nên theo đuổi một chiến lược đầu tư có khẩu vị rủi ro thấp, theo hướng tích sản, với tầm nhìn trung – dài hạn. Trong đó, nhà đầu tư có thể ưu tiên mua mạnh khi thị trường có những phiên điều chỉnh sâu, vì vùng định giá đã tương đối hấp dẫn. Đồng thời, cần tránh mua đuổi và sử dụng đòn bẩy khi thị trường tăng mạnh vì xu hướng ngắn hạn chưa rõ ràng.
Ngoài ra, nhà đầu tư nên tập trung vào các nhóm cổ phiếu có thể đảm bảo được đà tăng trưởng lợi nhuận mà không bị tác động quá nhiều bởi các yếu tố rủi ro từ bên ngoài. Ví dụ như ngành ngân hàng, bán lẻ tập trung vào thị trường nội địa, ngành tiêu dùng thiết yếu (điện, nước) và các ngành liên quan tới chiến lược đầu tư công.