Để đạt mục tiêu trên, cần nhìn lại mô hình tăng trưởng của Việt Nam và xác định rõ động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Theo mô hình kinh tế truyền thống, tăng trưởng được quyết định bởi ba yếu tố chính, gồm lao động, vốn và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Trong đó, vốn không chỉ bao gồm vốn tài chính mà còn bao gồm vốn phi tài chính như công nghệ, máy móc, thiết bị và vốn con người.
Theo ước tính, năm 2025 lao động đóng góp khoảng 9% vào tăng trưởng, vốn đóng góp khoảng 44%, trong khi TFP đóng góp khoảng 47%. Định hướng đến năm 2030 là nâng tỷ trọng đóng góp của TFP lên khoảng 55%, cho thấy Việt Nam đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất.
Cần phân biệt rõ giữa mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển. Mô hình tăng trưởng tập trung vào các chỉ tiêu định lượng như: tốc độ tăng GDP, việc làm và thu nhập, thường được xây dựng cho các giai đoạn trung hạn từ 3 đến 5 năm. Trong khi đó, mô hình phát triển hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân với tầm nhìn dài hạn, bao quát nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh. Vì vậy, một quốc gia không chỉ cần tăng trưởng nhanh mà còn phải bảo đảm phát triển bền vững và bao trùm, để thành quả tăng trưởng được chuyển hóa thành sự cải thiện thực chất trong đời sống người dân và doanh nghiệp.
Đánh giá giai đoạn phát triển vừa qua cho thấy Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đề ra, tuy nhiên vẫn còn một số chỉ tiêu quan trọng chưa đạt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn mục tiêu do tác động của dịch bệnh và những biến động từ môi trường quốc tế. Năng suất lao động chỉ tăng trên 5% mỗi năm, thấp hơn mục tiêu 6,5–7%.
Quy mô kinh tế số cũng chưa đạt kỳ vọng khi mới đóng góp khoảng 14% GDP, thấp hơn mục tiêu 20%, mặc dù tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 18–20% mỗi năm. Trong giai đoạn tới, mục tiêu là đưa kinh tế số lên khoảng 30% GDP, đòi hỏi quá trình chuyển đổi số và phát triển thương mại điện tử phải được đẩy nhanh hơn.
Việt Nam cần tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất thay vì tiếp tục mở rộng vốn và lao động. Lao động và vốn đều có giới hạn, trong khi năng suất còn nhiều dư địa để cải thiện thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện quản trị và hoàn thiện thể chế.
Theo các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, năng suất không chỉ phụ thuộc vào công nghệ và nguồn vốn mà còn chịu tác động của 5 yếu tố quan trọng gồm: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực chất lượng cao; hiệu quả phân bổ nguồn lực; chất lượng cơ sở hạ tầng và thể chế cùng năng lực thực thi. Trong đó, phân bổ nguồn lực hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì giúp chuyển nguồn lực từ khu vực có hiệu quả thấp sang khu vực có hiệu quả cao. Đồng thời, thể chế không chỉ là hệ thống pháp luật mà còn bao gồm khả năng tổ chức thực thi chính sách trên thực tế.
Theo các kịch bản nghiên cứu, để duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số, đóng góp của TFP cần đạt khoảng 53–55%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải tương đương khoảng 39–40% GDP và vốn đầu tư hằng năm cần tăng khoảng 12–13%. Bên cạnh đó, năng suất lao động phải tăng khoảng 8–8,5% mỗi năm, cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Điều này cho thấy tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng của các yếu tố tăng trưởng thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư.
Trong bối cảnh quốc tế, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay được dự báo chỉ đạt khoảng 2,5%, thấp hơn mức 2,9% của năm trước do tác động của các xung đột địa chính trị làm gia tăng lạm phát, gián đoạn chuỗi cung ứng, suy giảm đầu tư và tiêu dùng toàn cầu. Tuy nhiên, nếu tình hình địa chính trị được cải thiện, kinh tế thế giới có khả năng phục hồi lên khoảng 3% trong năm tiếp theo, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại và tăng trưởng của Việt Nam.
Lạm phát toàn cầu trong năm nay được dự báo tăng lên khoảng 4,7%, cao hơn mức kỳ vọng ban đầu dưới 4%, chủ yếu do tác động của các xung đột địa chính trị làm gián đoạn chuỗi cung ứng và đẩy giá năng lượng tăng cao. Tuy nhiên, triển vọng năm tới tích cực hơn khi lạm phát được dự báo giảm xuống dưới 4%, nếu tình hình chiến sự được cải thiện.
Một trong những yếu tố hỗ trợ là giá dầu bình quân được dự báo giảm từ khoảng 85 USD/thùng xuống còn 70–75 USD/thùng, qua đó góp phần hạ nhiệt giá cả hàng hóa và giảm áp lực lạm phát trên phạm vi toàn cầu.
Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay có ba điểm tích cực nổi bật. Thứ nhất, kinh tế toàn cầu vẫn duy trì tăng trưởng khoảng 2,5–2,8% trong năm nay và năm tới. Thứ hai, mặc dù lạm phát còn ở mức cao nhưng đã có dấu hiệu chững lại, tạo điều kiện để lãi suất quốc tế không tiếp tục tăng mạnh. Thứ ba, xu hướng đầu tư toàn cầu vẫn được duy trì ở mức cao, đặc biệt trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu và hạ tầng số, khi nhiều quốc gia và doanh nghiệp đang đầu tư hàng trăm tỷ USD vào các lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều rủi ro, trong đó nổi bật là bất ổn địa chính trị, áp lực lạm phát kéo dài, mặt bằng lãi suất cao và các thách thức liên quan đến an ninh năng lượng, an ninh lương thực, chuỗi cung ứng và an ninh kinh tế. Đối với Việt Nam, những yếu tố này có tác động đáng kể do nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Về triển vọng kinh tế Việt Nam, phần lớn các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng năm nay ở mức khoảng 7%, trong khi một số tổ chức như Standard Chartered đã nâng dự báo lên khoảng 8,2%. Tuy nhiên, đánh giá trong nước cho rằng Việt Nam vẫn có khả năng đạt mức tăng trưởng khoảng 9% trong năm nay và tiến tới 10% trong các năm tiếp theo nếu khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới. Lạm phát cả năm được dự báo dao động trong khoảng 4–4,6%, vẫn nằm trong ngưỡng có thể kiểm soát.
Xét theo phía cung, tăng trưởng được thúc đẩy bởi ba khu vực chính, gồm nông, lâm, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; khu vực dịch vụ. Trong đó, nông nghiệp đóng góp khoảng 5% vào tăng trưởng GDP, công nghiệp và xây dựng khoảng 45%, còn khu vực dịch vụ khoảng 43%. Điều này cho thấy công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục là những động lực quyết định để Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng cao.
Ở phía cầu, tiêu dùng và đầu tư vẫn là hai động lực quan trọng nhất. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiêu dùng đóng góp khoảng 68% vào tăng trưởng kinh tế, đầu tư đóng góp khoảng 60%, trong khi xuất khẩu ròng đóng góp âm khoảng 3,6% do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Điều này phản ánh tăng trưởng hiện nay chủ yếu dựa vào sức cầu trong nước thay vì đóng góp từ cán cân thương mại. Muốn đạt tăng trưởng hai con số, cả đầu tư và tiêu dùng đều phải tiếp tục được thúc đẩy.
Kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh khiến nhiều ý kiến lo ngại về nhập siêu. Tuy nhiên, phần lớn mức tăng này xuất phát từ ba nguyên nhân. (i) doanh nghiệp chủ động tăng nhập khẩu nguyên vật liệu và hàng trung gian để dự trữ trước những bất ổn quốc tế; (ii) giá năng lượng và nguyên liệu trên thế giới tăng làm gia tăng giá trị nhập khẩu; (iii), Việt Nam đang triển khai nhiều dự án đầu tư quy mô lớn nên nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng đáng kể. Vì vậy, mức nhập siêu hiện nay chưa phải là tín hiệu đáng lo ngại nếu chủ yếu phục vụ đầu tư và sản xuất.
Một điểm tích cực khác là tỷ giá tương đối ổn định, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nhiều quốc gia vẫn chịu áp lực lớn từ biến động tỷ giá và lạm phát. Đây là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam duy trì môi trường đầu tư ổn định.
Kiểm soát lạm phát tiếp tục là ưu tiên hàng đầu của chính sách kinh tế vĩ mô. Khoảng 87% biến động của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đến từ một số nhóm hàng chủ yếu, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm đóng góp khoảng 39% vào mức tăng lạm phát. Ngoài ra, các nhóm giáo dục và y tế cũng có tác động nhất định. Do đó, việc kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu vẫn là giải pháp quan trọng để ổn định mặt bằng giá.
Đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng quan trọng. Kế hoạch giải ngân năm nay khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 31% so với năm trước. Nếu giải ngân đạt kế hoạch, đầu tư công có thể đóng góp thêm khoảng 1,8 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, qua đó tạo dư địa để nâng tốc độ tăng trưởng từ khoảng 7% lên gần 9%.
Dòng vốn FDI tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, tuy nhiên cơ cấu nguồn vốn vẫn chủ yếu đến từ các quốc gia trong khu vực châu Á. Điều này phản ánh Việt Nam chưa thu hút được nhiều dự án công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển như Mỹ và châu Âu, cho thấy dư địa đa dạng hóa nguồn vốn FDI vẫn còn lớn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 12–13% mỗi năm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng khoảng 13%, trong đó khu vực kinh tế tư nhân lần đầu tiên đạt tốc độ tăng trên 13%. Mặc dù đây là tín hiệu tích cực, tốc độ này vẫn thấp hơn giai đoạn trước dịch, khi đầu tư tư nhân từng tăng khoảng 16%. Điều này cho thấy cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh để khu vực tư nhân trở thành động lực tăng trưởng bền vững.
Hoạt động bán lẻ tăng khoảng 13% theo giá hiện hành, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng thực chỉ khoảng 7,3%, thấp hơn giai đoạn trước đại dịch. Điều này cho thấy sức mua của nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn và vẫn cần các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước.
Về chính sách tiền tệ, dư địa điều hành lãi suất không còn nhiều. Tăng trưởng tín dụng liên tục cao hơn tốc độ tăng huy động vốn trong nhiều năm qua, khiến thanh khoản của hệ thống ngân hàng chịu áp lực. Tổng dư nợ tín dụng hiện đã vượt tổng tiền gửi của nền kinh tế khoảng 2 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục giảm lãi suất có thể làm suy giảm dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng tín dụng. Vì vậy, việc duy trì mặt bằng lãi suất ổn định trong năm nay đã được xem là một thành công của công tác điều hành.
Quy mô tín dụng của Việt Nam hiện ở mức cao so với GDP và sẽ còn tiếp tục tăng nếu nền kinh tế duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo tính toán, nếu tín dụng tăng khoảng 15% mỗi năm và GDP tăng khoảng 10%, đến năm 2030 dư nợ tín dụng có thể tương đương khoảng 180% GDP, cao hơn đáng kể so với nhiều nền kinh tế có trình độ phát triển tương đồng. Điều này đặt ra yêu cầu phải phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn nhiều dư địa phát triển nhưng hoạt động phát hành trong 6 tháng đầu năm 2026 có xu hướng giảm, chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp bất động sản và ngân hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp sản xuất vẫn chưa tận dụng hiệu quả kênh huy động vốn này. Việc Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 được kỳ vọng sẽ góp phần đa dạng hóa nguồn vốn cho nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy phát triển thị trường vốn.
Chất lượng tăng trưởng cần tiếp tục được cải thiện thông qua nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của Việt Nam hiện vẫn ở mức cao, khoảng 6,4 lần, trong khi mục tiêu là giảm xuống còn khoảng 4,5–4,6 lần. So với Hàn Quốc và Trung Quốc trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, khi ICOR chỉ khoảng 3–4 lần, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để nâng cao hiệu quả đầu tư, qua đó cải thiện chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp với cách tiếp cận mới, thay vì tiếp tục duy trì phương thức điều hành như trước. Trọng tâm là khai thác tối đa cả các động lực tăng trưởng truyền thống và các động lực tăng trưởng mới.
Trước hết, cần tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống, bao gồm xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng ở phía cầu; đồng thời thúc đẩy phát triển đồng đều ba khu vực kinh tế là nông, lâm, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; cùng khu vực dịch vụ. Bên cạnh đó, cần tạo dư địa cho các động lực tăng trưởng mới, đặc biệt là đổi mới sáng tạo, kinh tế số và các ngành công nghệ cao.
Một yêu cầu quan trọng nữa là tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Trong bối cảnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng chịu áp lực, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn góp phần bổ sung dòng tiền cho nền kinh tế, cải thiện thanh khoản và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Hiệu quả phối hợp không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng công cụ chính sách mà còn phụ thuộc vào thời điểm triển khai và liều lượng can thiệp phù hợp với diễn biến của nền kinh tế.
Song song với đó, cần đẩy mạnh huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Điều này bao gồm việc triển khai Đề án cải cách toàn diện hệ thống tài chính, khơi thông các nguồn lực đang bị ách tắc như các dự án chậm triển khai, tài sản công chưa được khai thác hiệu quả và các nguồn lực mới như thị trường carbon. Việc hình thành trung tâm tài chính quốc tế cũng được xem là một giải pháp quan trọng nhằm mở rộng khả năng huy động vốn cho nền kinh tế.
Một nguyên tắc xuyên suốt là phải kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt là an ninh năng lượng và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Đây là những điều kiện nền tảng để duy trì tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Bên cạnh đó, cần nâng cao tính tự chủ chiến lược của doanh nghiệp thông qua việc gia tăng tỷ lệ nội địa hóa. Hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa bình quân của Việt Nam mới đạt khoảng 36,6%, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (khoảng 56%). Một số ngành như dệt may đạt khoảng 50–55%, trong khi ngành điện tử chỉ khoảng 10–15%, cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ góp phần tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Theo kịch bản cơ sở, bên cạnh các động lực truyền thống, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới có thể được bổ sung từ các động lực mới.
Động lực quan trọng nhất là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có khả năng đóng góp khoảng 1 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP mỗi năm nếu được triển khai hiệu quả.
Động lực thứ hai là cải cách thể chế kinh tế, đặc biệt là cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Nếu các cải cách được thực hiện đồng bộ, tăng trưởng có thể được cải thiện thêm khoảng 0,5 điểm phần trăm.
Động lực thứ ba là phát huy vai trò của các cực tăng trưởng và các địa phương đầu tàu. Bảy thành phố trực thuộc Trung ương hiện đóng góp khoảng 64% GDP cả nước. Chỉ cần các địa phương này nâng tốc độ tăng trưởng thêm khoảng 0,5 điểm phần trăm, nền kinh tế có thể tăng thêm khoảng 0,6 điểm phần trăm.
Động lực thứ tư là tháo gỡ các dự án đầu tư đang bị đình trệ, giải phóng các nguồn lực đang bị “đóng băng” trong nền kinh tế. Đồng thời, thúc đẩy chuyển đổi xanh sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng trong trung và dài hạn thông qua nâng cao năng suất và mở rộng các lĩnh vực kinh tế mới.
Theo tính toán, nếu các động lực mới được triển khai đồng bộ, chúng có thể đóng góp thêm khoảng 3–3,5 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết hợp với các động lực truyền thống, đây là cơ sở để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng 9–10% trong những năm tới.
Tóm lại, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đồng thời phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng hiện hữu và tạo lập các động lực tăng trưởng mới, trong đó trọng tâm là đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tăng cường năng lực tự chủ của khu vực doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa nâng cao chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển kinh tế.




Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Thay vì sao chép các mô hình trung tâm tài chính truyền thống, Việt Nam hướng tới xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế mang bản sắc của thế kỷ 21, lấy tài chính số và tài chính xanh làm nền tảng, tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển…
Đô thị bền vững không bắt đầu từ những tuyên ngôn lớn, mà từ cách quy hoạch “lắng nghe” khí hậu, địa hình, văn hóa và nhu cầu của con người bản địa. Trong cuộc trao đổi với phóng viên, ông Carlo Negri, Giám đốc quốc tế Sweco, chia sẻ cách hơn 130 năm kinh nghiệm quốc tế được chuyển hóa thành một quy hoạch mang bản sắc riêng cho Coastal Quảng Ngãi - A Community by HAUS.
Công nghệ viễn thám đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin và dữ liệu về bề mặt Trái Đất và khí quyển từ xa, tác động đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Đặc biệt, các công nghệ viễn thám bao gồm ảnh vệ tinh, cảm biến gắn trên thiết bị bay không người lái và các nền tảng trên mặt đất đang chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống thành một ngành dựa trên dữ liệu, có khả năng đạt được năng suất cao hơn với mức tiêu thụ tài nguyên thấp hơn...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.