
Ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI, vừa có cuộc trao đổi với báo chí xoay quanh những điểm mới trên thị trường vàng Việt Nam, cũng như nhận định về triển vọng sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước sắp tới.
Thị trường vàng đã trở lại sau kỳ nghỉ lễ khá dài với những biến động mới. Ông nhìn nhận thế nào về sự trở lại này, cũng như có những khác biệt nào so với năm 2012?
2012 là năm khó khăn của nền kinh tế với quá nhiều biến động của thị trường vàng, với nhiều thứ “lần đầu tiên”.
Đó là lần đầu tiên Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh sản xuất vàng miếng theo hướng thắt chặt ra đời; lần đầu xuất hiện vàng SJC nhái khiến người dùng dè chừng không dám mua; lần đầu tiên một thời gian dài giá vàng trong nước và quốc tế chênh lệch nhau 3 - 4 triệu đồng/lượng và cũng là lần đầu tiên hệ thống mua bán vàng thu hẹp từ 12.000 điểm xuống còn hơn 2.500; lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, độc quyền thương hiệu lấy tên từ SJC.
Nhưng với năm 2013 thì dấu ấn có lẽ nằm ở chỗ quyết định để Ngân hàng Nhà nước - với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước - nhưng cũng trực tiếp tham gia vào kinh doanh, quản lý kinh doanh.
Cùng với Nghị định 24, đây là một vấn đề rất mới cả về chính sách, quan điểm, điều chỉnh hành vi của cả ba chủ thể tham gia thị trường là cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị kinh doanh, người tiêu dùng. Nghĩa là, cả ba đối tượng này đều phải thay đổi cách nghĩ, làm, hành vi. Tình trạng người mua đi bất cứ đâu cũng mua được vàng miếng, dễ như mua rau chấm dứt, thay vào đó, phải đến các điểm có uy tín, cấp phép. Các đơn vị kinh doanh phải đủ điều kiện, có khả năng đáp ứng được mới bán, chưa không phải chỉ cần mở một cửa hiệu với tủ kính nhỏ là bán được vàng.
Riêng về cơ quan quản lý, 2012 cũng là năm để nhận thấy thị trường vàng không đơn giản, dễ dàng quản lý như những loại hình kinh doanh khác, nên cần phải có biện pháp, cách thức phù hợp. Cả ba chủ thể đều phải điều chỉnh cách nghĩ, cách làm. Đó là những điều từ trước đến nay thị trường vàng chưa có.
Tôi nghĩ rằng trước đây đang thiếu ở đâu đó ở góc độ quy định về pháp luật với cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực vàng, quản lý nhưng không được mua bán, cho phép có nhiều thương hiệu khác nhau tồn tại, chưa có những giải pháp đúng và trúng để ngăn chặn ảnh hưởng của vàng lậu.
Còn về hoạt động kinh doanh của DOJI, có gì mới gắn với những đặc điểm trên của thị trường và ông có hài lòng không?
Điều tôi hài lòng hơn cả là trong bối cảnh khó khăn như vậy, chúng tôi vẫn duy trì là một trong những “ông lớn” trên thị trường vàng.
Doanh thu năm 2012 của DOJI là 32.050 tỷ đồng; lợi nhuận tăng 12%; tiến từ top 5 (2010), top 3 (2011) lên dẫn đầu trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Trên 90% doanh thu của DOJI từ vàng miếng, song về nữ trang đã tăng trưởng ba năm liền ở mức bình quân 40 - 50%.
Ông nói 90% doanh thu 2012 là từ vàng miếng, vậy mức này có phải quá cao với một doanh nghiệp chủ trương hướng đến thị trường chính là vàng trang sức như DOJI?
Thực ra, nhìn vào doanh thu thì thấy lớn, nhưng nếu so sánh với năm 2011 thì năm 2012, tỷ lệ tăng trưởng của vàng miếng mới chỉ 8%, khá thấp so với mức vài chục phần trăm của các năm trước đó.
Tôi cũng đã từng chia sẻ, năm 2012, vàng đã có phần bớt lấp lánh đi trong mắt dân cư và nhà đầu tư vì quả thực đầu tư vào vàng không hữu hiệu cho lắm. Chỉ xét riêng 2012, giá vàng quốc tế tăng 7%, trong nước tăng 9%, mức này không phải quá hấp dẫn. Các năm trước đó, biên độ tăng giá có thể lên tới 25 - 30%, nên nếu rót vào đầu tư vàng năm 2012 thì trung bình không bằng lãi suất tiết kiệm của ngân hàng.
Nhưng vì sao vàng miếng vẫn áp đảo trên thị trường, trong khi vàng nữ trang chưa thực sự sôi động?
Đơn giản là do thói quen tích trữ, nhu cầu của người dân với loại vàng này lớn. Còn với vàng trang sức, trong khó khăn người ta cũng bớt tiêu dùng vào các mặt hàng cao cấp.
Với trang sức của DOJI, sản phẩm của chúng tôi đưa ra vẫn liên tục tăng trưởng doanh thu. Từ năm 2008, năm nào doanh thu cũng đạt gấp đôi, có năm 70%, trung bình ba năm tăng trưởng trên 40%. Cốt lõi của thị trường là nữ trang chứ không phải vàng miếng. Vấn đề này, tôi đã nhìn thấy từ lâu rồi, vì thế bản thân DOJI cũng xây dựng cho mình những thương hiệu riêng về trang sức, kim cương, đá màu, bạc hay các loại nhẫn Lộc - Phát - Tài bằng trang sức vàng ta có hàm lượng vàng 99 và 999.
Nói vậy để thấy, chúng tôi không trông vào lợi nhuận trước mắt của vàng miếng mà con đường đích thực vẫn là nữ trang.
Như ông phân tích ở trên, trong năm 2012 và 2013, Ngân hàng Nhà nước triển khai một loạt chính sách mới, thị trường đón nhiều “lần đầu tiên” như vậy, thì khả năng thẩm thấu những điểm mới sẽ như thế nào, trong khi thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước so với thế giới vẫn là một vấn đề lớn?
Tôi nghĩ, trong nửa năm đầu 2013, chính sách vẫn chưa thẩm thấu vì tâm lý tích trữ vàng của người dân có từ hàng trăm năm nay. Nhà nước muốn giảm vàng hóa, để người dân không giữ và “yêu” vàng nữa thì phải cần một quá trình, phụ thuộc vào chấn hưng nền kinh tế, sức khỏe của đồng nội tệ.
Còn về chênh lệch giá vàng, tôi tin là sẽ kéo được vì Ngân hàng Nhà nước có đẩy đủ phương tiện và công cụ trong tay; được độc quyền nhập khẩu nguyên liệu mà không phải chịu thuế; là đơn vị duy nhất được sử dung tài khoản nước ngoài để cân đối trạng thái vàng để phòng ngừa rủi ro; là người độc quyền sử dụng thương hiệu của mình để đưa ra thị trường một sản phẩm duy nhất. Ngân hàng Nhà nước cũng tham gia trực tiếp kiến tạo thị trường chứ không phải chỉ với vai trò quản lý nhà nước như trước.
Như vậy là vai trò của Ngân hàng Nhà nước, vừa là thành viên Chính phủ, vừa là ngân hàng trung ương quốc gia, giờ với thị trường vàng lại là một “tay to” kiến tạo, người mua bán cuối cùng, mọi công cụ đều trong tay Ngân hàng Nhà nước thì có thể làm được.
Tôi tin việc quản lý của Ngân hàng Nhà nước sẽ kéo giá lại.
Nhưng theo ông đến lúc nào thì mới kéo được giá lại?
Điều này thì Ngân hàng Nhà nước đã chỉ ra là càng nhanh càng tốt. Nếu tạm tính mốc 30/6/2013 là thời điểm tất cả các ngân hàng thương mại phải tất toán trạng thái vàng thì cũng có thể cho rằng đó là lúc cuối cùng để gióng lên tiếng cồng về sự đầy đủ trong vai trò, điều kiện của Ngân hàng Nhà nước về giải quyết vấn đề chênh lệch giá nội - ngoại.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.