Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quảng cáo, trong đó đề xuất bổ sung quy định về việc cấp Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo.
Theo dự thảo, chỉ các cơ quan báo chí đã được cấp phép hoạt động phát thanh hoặc truyền hình mới đủ điều kiện xin cấp Giấy phép này. Bộ sẽ quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp mới, cấp lại, sửa đổi, bổ sung hoặc thu hồi Giấy phép. Thời hạn tối đa của Giấy phép là 10 năm kể từ ngày cấp.
Quy định mới nhằm quản lý chặt chẽ hơn hoạt động sản xuất kênh quảng cáo trên truyền hình – một lĩnh vực hiện chưa được điều chỉnh trong Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, gây ra khoảng trống pháp lý trong thời gian qua.
Sau khi được cấp phép, cơ quan báo chí có thể chủ động sản xuất và cung cấp các kênh quảng cáo chuyên biệt cho các đơn vị phát thanh, truyền hình trên toàn quốc theo đúng phạm vi Giấy phép.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ thu hồi Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, không phát sinh sản phẩm báo chí. Nếu sau 6 tháng kể từ ngày Giấy phép có hiệu lực mà cơ quan báo chí vẫn chưa phát sóng hoặc xuất bản bất kỳ sản phẩm nào, Giấy phép sẽ tự động hết hiệu lực.
Thứ hai, tạm ngừng sản xuất quá thời hạn cho phép. Cơ quan báo chí phải thông báo bằng văn bản cho Bộ và đăng trên phương tiện thông tin đại chúng ít nhất 24 ngày làm việc trước khi tạm ngừng sản xuất kênh. Nếu việc tạm ngừng kéo dài quá 6 tháng, Giấy phép sẽ hết hiệu lực.
Thứ ba, chấm dứt sản xuất kênh. Trường hợp quyết định chấm dứt sản xuất kênh, cơ quan báo chí phải thông báo bằng văn bản cho Bộ ít nhất 24 ngày làm việc trước ngày chấm dứt. Bộ sẽ ra quyết định thu hồi Giấy phép và yêu cầu công bố thông tin rộng rãi.
Thứ tư, bị thu hồi giấy phép hoạt động chính. Nếu cơ quan báo chí bị thu hồi hoặc bị tước Giấy phép hoạt động phát thanh/truyền hình thì Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo cũng sẽ bị thu hồi theo.
Theo dự thảo Nghị định mới, hồ sơ xin cấp Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo gồm các thành phần sau:
Đơn đề nghị cấp giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo (theo mẫu).
Đề án sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo, trong đó nêu rõ: Mục đích sản xuất; tên gọi, biểu tượng (logo); tôn chỉ, mục đích kênh; nội dung kênh; độ phân giải hình ảnh của kênh chương trình đối với kênh truyền hình; âm thanh đối với kênh phát thanh; khung chương trình dự kiến trong 1 tháng; đối tượng khán/thính giả; năng lực sản xuất kênh; quy trình tổ chức sản xuất và quản lý nội dung kênh; phương thức kỹ thuật phân phối kênh đến các đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình.
Trường hợp kênh chương trình là sản phẩm liên kết, Đề án sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo phải cung cấp thêm các thông tin gồm: Địa chỉ, năng lực của đối tác liên kết; hình thức liên kết; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết.
Với các cơ quan báo chí thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc các Bộ, ngành, đề án phải được cơ quan chủ quản phê duyệt. Với các cơ quan báo chí Trung ương, người đứng đầu cơ quan phải ký xác nhận.
Nếu đơn vị xin cấp phép cho nhiều kênh, cần lập đề án riêng cho từng kênh.
Đơn vị đề nghị cấp Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo lập 01 bộ hồ sơ theo quy định, nộp trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính tới Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc nộp trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trường hợp nộp trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến phải có chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Trong thời hạn 24 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xét cấp Giấy phép sản xuất kênh chương trình chuyên quảng cáo. Trường hợp không cấp Giấy phép, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí 50 trong bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2026, trong đó TP. Hồ Chí Minh lần đầu góp mặt trong nhóm 100 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới...
Kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần đồng thời giải bài toán về công nghệ, thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận những góc nhìn, kiến nghị từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam”, qua đó góp phần hoàn thiện hệ sinh thái này.
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, dù được xem là những động lực tiềm năng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, nhưng cũng đang vướng không ít điểm nghẽn. Nếu không sớm được tháo gỡ, Việt Nam sẽ không chỉ khó phát triển và khai thác đầy đủ tiềm năng của lĩnh vực này mà còn có nguy cơ tụt lùi so với cuộc chạy đua “thần tốc” của thế giới trong lĩnh vực này...
Các sản phẩm công nghệ cao, trong đó có các phương tiện bay không người lái (UAV) và công nghệ không gian vũ trụ (vệ tinh…), nếu không có “bàn tay” tạo dựng thị trường ban đầu của Nhà nước cho các sản phẩm mới, thì những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế sẽ khó có “đất dụng võ” và các doanh nghiệp sẽ không dám đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, sản xuất...
Kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang được nhiều quốc gia xác định là những động lực tăng trưởng mới trong quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ tạo ra các ngành công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, hai lĩnh vực này còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và mở rộng các thị trường dịch vụ số...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Quy định cơ chế ủy quyền, giao thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan điều tra cho Trưởng, Phó trưởng công an cấp xã… có thể dẫn đến tình trạng thẩm quyền phân tán nhưng trách nhiệm khó kiểm soát. Thậm chí, điều này có thể vô hình chung làm hình thành thêm hơn 3.000 cơ quan điều tra ở cấp xã.