
Ngành điện tử được ví như một “lâu đài cát” khi nó rất đẹp, đóng góp lớn cho nền kinh tế cả về số việc làm và ngoại tệ thu về nhưng đã là “lâu đài cát” thì nó cũng rất dễ đổ vỡ. Bởi sự thiếu bền vững khi số lượng phát triển nhưng không đi kèm với chất lượng…
Ví von này được ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra tại Đối thoại chính sách cấp cao về “Thúc đẩy việc làm tốt hơn, tăng cường tuân thủ pháp luật và tiêu chuẩn lao động của ngành điện tử Việt Nam trong bối cảnh TPP và các FTA”, do VCCI phối hợp với Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) tổ chức ngày 29/9/2016.
Quy mô rất nhỏ
Theo ông Rene Robert, chuyên gia ILO Bangkok cho biết, số lượng công nhân trong ngành này tại Việt Nam đã tăng hơn 7 lần, từ 46.000 lao động năm 2005 lên hơn 325.000 năm 2013. Đây là ngành công nghiệp mà các doanh nghiệp FDI có đóng góp chủ đạo. 99/100 doanh nghiệp lớn nhất là các doanh nghiệp FDI, chỉ duy nhất một doanh nghiệp còn lại đứng thứ 100 là doanh nghiệp nhà nước.
“Lao động trong ngành này là lao động kỹ năng thấp, lắp ráp hàng loạt. Các doanh nghiệp FDI lựa chọn Việt Nam để đầu tư chủ yếu do nhân công rẻ và dồi dào. Đa phần lao động trong các doanh nghiệp điện tử là nữ và còn rất trẻ, chiếm gần 80%”, ông Rene Robert nói.
Ngược lại với quy mô của doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp điện tử trong nước có quy mô rất nhỏ, trung bình chỉ 24 nhân công so với con số gần 630 nhân công ở các doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 4% tổng số việc làm trong ngành này. Đồng thời, các doanh nghiệp điện tử trong nước cũng thiếu sự hội nhập với thế giới hơn so với doanh nghiệp FDI nên hiệu quả kinh tế bị giới hạn.
Chia sẻ vấn đề này, ông Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho hay, các doanh nghiệp FDI vào nước ta chỉ sử dụng lao động giá rẻ, trình độ thấp, lắp ráp là chủ yếu, ngay cả Samsung cũng vậy. Đây là công đoạn thấp nhất trong chuỗi giá trị của ngành điện tử trên thế giới.
Theo ông Vũ Tiến Lộc, ngành điện tử có sự phát triển về số lượng nhưng lại không đi kèm với chất lượng. Điều này được biểu hiện qua những đặc điểm như đây là ngành gia công, lắp ráp; thế độc chiếm của doanh nghiệp FDI; lao động tay nghề thấp, chủ yếu sử dụng lao động nữ và trẻ; không có khả năng kết nối giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI…
Ông Vũ Tiến Lộc cho rằng, Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam để phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, điện tử… Tuy nhiên, gần đây có một số dự báo về tình trạng mất việc làm trong ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động tại các nước đang phát triển với tác động của cuộc cách mạng công nghiệp mới, đó là thay đổi quy trình, công nghệ sản xuất, logistics, phương thức phân phối.
Đặc biệt là sự tham gia của người máy vào trong quá trình thao tác lắp ráp đơn giản vì chi phí người máy đang rẻ.
“Có thể nói, nền công nghiệp sử dụng nhiều lao động của Việt Nam đang đứng trước thách thức to lớn, vừa cạnh tranh đối với người máy và cả các nước có lao động rẻ hơn như Campuchia, Myanmar…gây ra tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”, và ngành điện tử cũng không nằm ngoài thách thức này”, ông Lộc nhấn mạnh.
Cần trực tiếp đối thoại
Trước thực trạng trên, các đại biểu cho rằng các ngành chức năng Việt Nam cần có chính sách riêng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điều kiện để doanh nghiệp có đơn hàng thường xuyên, ổn định.
Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận thì mới thúc đẩy việc tạo ra việc làm mới và cải thiện môi trường làm việc của người lao động. Bên cạnh đó, đẩy mạnh liên kết dạy nghề giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cũng là giải pháp được nhiều đại biểu đề cập nhằm nâng cao chất lượng lao động.
Ông Rene Robert nhấn mạnh, đã đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn xa hơn về chiến lược sử dụng lao động, coi điều kiện lao động tốt là yếu tố giúp gia tăng cạnh tranh và đem lại lợi nhuận.
Cùng đó, thanh tra lao động Việt Nam cần xây dựng bộ công cụ đánh giá việc tuân thủ pháp luật lao động dành riêng cho ngành điện tử. Đồng thời có cơ chế, chế tài yêu cầu các doanh nghiệp thực thi tốt pháp luật lao động để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho công nhân.
Quan trọng nhất, doanh nghiệp, người lao động, các cơ quan liên quan cần trực tiếp đối thoại để tìm ra giải pháp tốt nhất cho việc phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng môi trường làm việc cho người lao động.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, sản phẩm ngành điện tử là nguồn xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau sản phẩm ngành may mặc.
Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, số lượng công nhân tham gia ngành điện tử tăng rất nhanh, từ 46.000 công nhân (năm 2005) lên 327.000 công nhân (2013). Trong thời gian tới, điện tử vẫn được xác định là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam.
Những nữ doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị nông sản, kết nối nông dân với thị trường, tạo sinh kế bền vững và thúc đẩy chuyển đổi xanh...
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 9,75%, thu ngân sách đạt 25.711 tỷ đồng, Nghệ An ghi nhận những đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp. Tỉnh đồng thời cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp phát triển.
Từ những quy định an toàn nghiêm ngặt, sự chuẩn bị chu đáo, khả năng ứng phó với rủi ro đến cách tổ chức đội ngũ và tinh thần đồng hành vượt qua thử thách khi thực hiện hành trình khám phá kỳ quan Sơn Đoòng, tác giả cuốn sách “Sơn Đoòng - Nơi Trái Đất thở” đã đúc kết 7 bài học quản trị doanh nghiệp bền vững...
TP. Hồ Chí Minh tôn vinh 100 doanh nghiệp và 96 doanh nhân tiêu biểu năm 2026. Các doanh nghiệp được vinh danh ghi nhận tổng doanh thu hơn 484.000 tỷ đồng, đồng thời đóng góp đáng kể cho ngân sách, tạo việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế Thành phố...
Hàng loạt Nghị quyết như 19,24, 68 hay 57… được ban hành trong thời gian gần đây đã mở ra không gian phát triển cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Song khoảng cách giữa tốc độ chuyển động của doanh nghiệp với độ trễ của cơ chế, tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý vẫn là trăn trở thường trực của doanh nghiệp…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.