Báo cáo tập trung lấy ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp phản hồi về các vấn đề thể chế liên quan đến luật trí tuệ nhân tạo (AI), phát triển phương tiện bay không người lái (UAV), chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và cơ chế khuyến khích hoạt động nghiên cứu – phát triển (R&D).
Cụ thể, đối với dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo, một số hiệp hội và doanh nghiệp đề nghị xem xét điều chỉnh quy định về nghĩa vụ gắn nhãn nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa khi cung cấp ra công cộng.
Theo các ý kiến này, việc áp dụng rộng rãi đối với mọi nội dung có yếu tố AI có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý, ảnh hưởng đến động lực ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Do đó, doanh nghiệp đề xuất chỉ áp dụng nghĩa vụ này đối với các hệ thống AI rủi ro cao trong các lĩnh vực như y tế, an ninh, quốc phòng hoặc các trường hợp có khả năng gây nhầm lẫn nghiêm trọng về tính xác thực của thông tin.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng kiến nghị rà soát danh mục hệ thống AI được xếp loại “rủi ro cao”. Theo đề xuất, chế độ quản lý nghiêm ngặt nên tập trung vào các hệ thống có khả năng tác động trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe con người hoặc liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và hoạt động tư pháp, thay vì mở rộng sang nhiều lĩnh vực dân sự – thương mại như tài chính, nhân sự hay giáo dục.
Trong lĩnh vực phương tiện bay không người lái, báo cáo thống kê các khoảng trống về chính sách. Theo báo cáo, các doanh nghiệp cho rằng hiện đang thiếu khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa UAV; chưa có cơ chế sandbox cho thử nghiệm, thiếu khu vực bay thử chuyên dụng, chưa có tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất UAV cũng như quy trình kiểm thử và kiểm định trước khi đưa sản phẩm ra thị trường; hệ thống đào tạo, sát hạch và cấp chứng chỉ phi công UAV cũng chưa được thiết lập đầy đủ.
Báo cáo cũng phản ánh những vướng mắc trong thủ tục nhập khẩu linh kiện và thiết bị UAV. Mặc dù quy định hiện hành nêu thời hạn xử lý hồ sơ khoảng 11 ngày làm việc nếu đầy đủ thủ tục, nhưng trên thực tế doanh nghiệp có thể mất nhiều tháng để hoàn tất quy trình cấp phép do phải qua nhiều cơ quan và nhiều bước xác minh.
Đối với khó khăn liên quan đến các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp hỗ trợ và hỗ trợ khoa học công nghệ, một số doanh nghiệp cho biết vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận các chính sách ưu đãi do điều kiện và hồ sơ còn phức tạp, đặc biệt trong việc chứng minh sản phẩm thuộc danh mục công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.
Trong khi đó, cơ chế cho phép tính chi phí R&D vào chi phí được trừ tối đa 200% theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghị định hướng dẫn được đánh giá là còn chồng chéo về quy định và thủ tục, khiến doanh nghiệp lúng túng trong quá trình thực hiện.
Báo cáo cũng cho biết một số ý kiến từ các hiệp hội ngành hàng cho rằng Nghị quyết 68/NQ-TW đã tạo chuyển biến tích cực về tư duy chính sách và thúc đẩy đối thoại giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn tồn tại độ trễ giữa chủ trương và thực thi ở các cấp, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện thể chế, giảm chi phí tuân thủ và cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn lực phục vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của doanh nghiệp.