Trong khi lãi suất ở các nước vẫn duy trì mức thấp nhằm phục hồi kinh tế thì ở Việt Nam, lãi suất vẫn cao.
Có trường hợp doanh nghiệp nhỏ phải tiếp cận lãi vay ở mức 17,7%/năm, thậm chí cho vay tiêu dùng lên tới 19%/năm. Một số ý kiến trong giới phân tích cho rằng, muốn giảm lãi suất thì phải "canh chừng" chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Lãi vay tới 19%/năm!
Một tuần nay, giám đốc một doanh nghiệp nhỏ ở Đầm Trấu (Hà Nội), chuyên hoạt động trong ngành quảng cáo tấm biển lớn, đã mất ăn mất ngủ vì lãi suất của món vay 2,7 tỷ đồng để thi công các tấm biển lớn cho khách hàng trên các trục đường Nội Bài và Pháp Vân - Cầu Giẽ.
Ông cho biết, từ ngày 25/9/2009, doanh nghiệp này ký hợp đồng tín dụng với một ngân hàng có trụ sở trên phố Bà Triệu (Hà Nội), trị giá 2,7 tỷ đồng, thời hạn 3 năm, 3 tháng điều chỉnh lãi vay một lần từ mức khởi điểm 10,5%/năm, gốc và lãi trả hàng tháng, phương thức giải ngân theo từng khế ước vay.
Toàn bộ 2,7 tỷ đồng được chia thành 4 khế ước vay. Cụ thể, khế ước 1 vay ngày 25/9/2009 có giá trị 1,3 tỷ đồng, khế ước 2 (28/9/2009) 800 triệu đồng, khế ước 3 (1/10/2009) 400 triệu đồng và khế ước 4 vay ngày 18/10/2009 giá trị 200 triệu đồng.
Đến nay, doanh nghiệp này đã trả được 900 triệu đồng tiền gốc, lãi thanh toán sòng phẳng và cùng vào ngày 25 hàng tháng.
Từ lúc nhận tiền vay đến nay, ngân hàng nói trên đã điều chỉnh các mức lãi suất tiền vay cụ thể như sau: lần thứ nhất, ba khế ước đầu tiên bị điều chỉnh từ 10,5%/năm lên 12%/năm và một khế ước (thứ 4) bị điều chỉnh từ 10,5%/năm lên 15%/năm. Lý do khế ước thứ 4 bị điều chỉnh tăng 3%/năm so với 3 khế ước trên là do bị áp mức phí quản lý tài sản đảm bảo 3%/năm.
Tuy nhiên, đến 25/6/2010, ba khế ước nói trên đang từ mức 12%/năm đã bị điều chỉnh lên 15,4%, còn khế ước thứ 4 vẫn giữ nguyên 15%/năm.
Và cao trào đẩy lãi suất đạt đỉnh khi ngày 25/9/2010, ngân hàng nói trên đã điều chỉnh khế ước thứ 4 từ 15%/năm lên 17,7%/năm (3 khế ước trên vẫn 15,4%/năm) với “công thức riêng” của ngân hàng này: lãi suất tiền vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm 13 tháng lãi trả cuối kỳ (hiện ở mức 11,2%/năm), cộng với biên độ điều chỉnh lãi suất 6,5%/năm.
Tất nhiên, người vay không hiểu 6,5%/năm kia ở đâu ra, nhưng vẫn phải trả. Chủ doanh nghiệp trên bức xúc: “Tôi rất ấm ức và muốn trả tống một lần phần nợ còn lại rồi cạch đến già, nhưng cũng không được vì nếu trả trước hạn sẽ bị phạt nặng”.
Mang thực tế này trao đổi với một quan chức ngân hàng, ông cho rằng, rất có thể do ngân hàng định giá lãi suất dựa trên mức độ rủi ro của doanh nghiệp và ông cho biết thêm, có trường hợp cho vay tiêu dùng còn lên tới 19%/năm! Tuy nhiên, khi kiểm tra, đối chứng với quá trình quan hệ hợp đồng tín dụng trên thì thời gian đầu mức lãi suất ngân hàng đưa ra là chấp nhận được, nhưng những lần điều chỉnh lãi suất sau đó lại không liên quan gì đến mức độ tín nhiệm hoặc rủi ro của món vay để áp lãi vay cao ngất như thế.
Vậy, lãi suất cao là do đâu?
Giữ CPI như giữ đê
Có thể nói, lãi suất cao đang là câu chuyện gây nhiều bức xúc hiện nay. Mang băn khoăn “làm sao giảm lãi suất” đến với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, ông cũng cho rằng, hiện đó là một bài toán khó.
Theo Thống đốc, Ngân hàng Nhà nước đã “làm tất cả những gì cần phải làm”, mà đầu tiên là tháo gỡ trở ngại tại Thông tư 13, thông qua việc ban hành Thông tư 19.
Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã vui mừng khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 19. Nhờ đó, nguồn vốn của các ngân hàng được tăng thêm. Có ngân hàng, con số này lên tới cả nghìn tỷ đồng, vì khi vay mượn lẫn nhau, họ không bị vướng rào “vay mượn trên thị trường 2 không được quá 20% so với thị trường 1”; được sử dụng “25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng)”; tiền vay của tổ chức trong nước, tiền vay tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn 3 tháng trở lên (trừ tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước để bù đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả theo quy định tại khoản 1, điều 14) và tiền vay của tổ chức tín dụng nước ngoài”; phần bảo lãnh thanh toán không bị tính vào tỷ lệ an toàn… Đặc biệt, ngân hàng cũng được tăng thêm quyền tự chủ trong sử dụng nguồn vốn tự có như vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ, lợi nhuận chưa chia…
Tiếp theo, ngày 29/9, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 20/2010/TT-NHNN, áp tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp hơn trước đó đối với các tổ chức tín dụng có dư nợ lớn ở khu vực “tam nông”. Vì thế, những ngân hàng thương mại có thị phần ở khu vực nông thôn được hỗ trợ một lượng vốn khá lớn từ phía Ngân hàng Nhà nước…
Song, “mặc dù đó là những động thái cần thiết của Ngân hàng Nhà nước để giảm mặt bằng lãi suất, nhưng giá như CPI tháng 9/2010 không tăng vọt như thế”, chuyên gia tài chính Vũ Đình Ánh nhận xét.
Theo ông Ánh, việc CPI tháng 9 tăng 1,31% so với tháng trước và 6,46% so với tháng 12/200 đã tạo ra sự kỳ vọng không tốt về lạm phát, bởi dù ở đâu, ở thời điểm nào thì “lạm phát là bào thai của lãi suất”. Vì thế, vào lúc này, các bộ ngành cần đưa CPI tháng 9 ra “mổ xẻ”, để tìm ra các nguyên nhân nội tại cũng như sự tác động bên ngoài. Với sự đồng thuận của các tổ chức tín dụng, sự linh hoạt trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước, thì việc kiểm soát tốt lạm phát sẽ là các yếu tố then chốt để đưa mặt bằng lãi suất giảm xuống.
Ngoài ra, tổng giám đốc của một ngân hàng cổ phần phân tích thêm, có một yếu tố khác cũng tác động mạnh lên CPI, đó là tỷ giá hối đoái, nhất là khi trong hai ngày gần đây, giá USD tự do đã tăng lên mức 19.680 đồng/USD.
Ông phân tích, mặc dù tỷ giá không phải là nhân tố tác động trực tiếp lên cung cầu của VND, nhưng chúng là nhân tố liên quan nhiều đến lạm phát. Bởi, nếu giữ được kỳ vọng ổn định tỷ giá, sẽ khơi thông một lượng ngoại tệ được sử dụng (vay thay vì mua) với mức lãi suất thấp hơn VND, từ đó gián tiếp tạo ra sự “pha loãng” cầu tiền đồng, nhờ đó mà lãi suất có thể giảm theo.
Thứ hai, trong bối cảnh các đồng tiền châu Á đang tăng giá so với USD thì VND lại giảm giá so với USD. Nghịch lý này tạo ra sự tác động luân chuyển và làm cho CPI tăng, ở chỗ: các đồng tiền châu Á cũng tăng giá mạnh so với VND, nếu Việt Nam nhập khẩu nhiều trong khu vực thì yếu tố này sẽ truyền dẫn vào giá hàng hóa. Do đó, theo vị tổng giám đốc này, việc giữ tỷ giá ổn định từ nay đến cuối năm là việc làm cần thiết, nếu muốn góp phần ổn định CPI, và qua đó, có thể gián tiếp tạo ra kỳ vọng giảm lãi suất trên thị trường.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước giai đoạn 2026–2030 tại 21 doanh nghiệp giai đoạn 2026–2030. Trong đó, Vietcombank và BIDV sẽ giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước từ mức 74,85 và 76,73% xuống còn 65% từ nay đến 2030...
Loạt ngân hàng vừa công bố kết quả kinh doanh quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026. Đáng chú ý, một số ngân hàng ghi nhận mức lãi hàng chục nghìn tỷ đồng, hoàn thành phần lớn kế hoạch lợi nhuận cả năm…
Ít nhất 22 ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay, trong đó 15 ngân hàng đưa ra các gói tín dụng ưu đãi với tổng hạn mức hơn 451.000 tỷ đồng. Trong số này, chỉ có Agribank công bố giảm lãi suất cho cả các khoản vay đang còn dư nợ. Không có chương trình nào dành cho khách hàng cá nhân vay tiêu dùng như mua nhà, mua ô tô mà chỉ tập trung vào vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh với kỳ hạn dưới 6 tháng...
Với dư nợ tín dụng gần 6,8 triệu tỷ đồng, chiếm gần 35% tổng dư nợ cả nước, Đông Nam Bộ tiếp tục là địa bàn trọng điểm của dòng vốn ngân hàng. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, khu vực cần khơi thông nguồn vốn, tháo gỡ vướng mắc tín dụng và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn...
Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ vào cuộc ngăn chặn tình trạng đẩy giá bất động sản lên mức ảo; giảm lãi suất cho các lĩnh vực ưu tiên là động lực tăng trưởng của nền kinh tế và sử dụng “khách hàng bí mật” để kiểm tra việc chấp hành các quy định về lãi suất…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...