Giao thông phát thải thấp: Cần hạ tầng chính sách quốc gia liên ngành
Nguyệt Hà
04/04/2026, 08:35
Về dài hạn, hạ tầng sạc xe điện không chỉ là câu chuyện của ngành giao thông, mà còn liên quan trực tiếp đến ngành điện, quy hoạch đô thị và chiến lược năng lượng quốc gia...
Metro đang được kỳ vọng là giải pháp hạ tầng giao thông giải quyết di chuyển nội đô cho TP. Hồ Chí Minh sau sát nhập.
Khi xe điện trở thành một phần quan trọng của hệ thống tiêu thụ năng lượng, áp lực lên lưới điện sẽ gia tăng, đòi hỏi các giải pháp tích hợp như lưu trữ năng lượng, điều tiết phụ tải và phát triển năng lượng tái tạo.
Tại
TP.Hồ Chí Minh, bức tranh hạ tầng sạc đang dần hình thành với tốc độ nhanh, nhưng cũng bộc lộ rõ những khoảng trống lớn về quy hoạch, kỹ thuật và chính sách. Đây là những yếu tố có thể trở thành “nút thắt cổ chai” trong giai đoạn tăng trưởng
tiếp theo của thị trường xe điện...
ÁP LỰC TỪ 10 TRIỆU PHƯƠNG TIỆN VÀ BÀI
TOÁN LỰA CHỌN MÔ HÌNH GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
Tại Hội thảo kỹ thuật
“Thúc đẩy phương tiện giao thông cá nhân phát thải thấp tại TP. Hồ Chí Minh: Giải
pháp về Công nghệ, Chính sách và Thị trường”
do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Sở Xây
dựng TP Hồ Chí Minh tổ chức, TS Phạm Duy Hoàng, chuyên gia về giao thông của UNDP, cho
biết hệ thống hạ tầng sạc trên địa bàn
TP.HCM hiện đã đạt quy mô hơn 1 triệu điểm sạc quy đổi, trong đó có khoảng hơn
2.000 trụ sạc công cộng đang vận hành.
Nếu
xét theo không gian, thành phố hiện có khoảng 1.100 vị trí sạc nhanh và gần
2.000 vị trí sạc công cộng, với mật độ phân bổ tập trung chủ yếu trong khu vực
nội đô, chiếm khoảng 74% tổng số điểm sạc. Theo kết quả của nhóm nghiên cứu do TS
Hoàng chủ trì, với khoảng 34.500 xe điện đang lưu
hành, tỷ lệ hiện tại tương đương khoảng 8 xe điện trên một điểm sạc, thấp hơn
mức khuyến nghị phổ biến của quốc tế là 10 xe/trụ.
“Điều
này cho thấy TP.Hồ Chí Minh đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nơi hạ tầng
được đầu tư tương đối “dư địa” so với quy mô phương tiện, nhằm tạo thuận lợi
cho người dùng và kích thích nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, sự phân bổ không
đồng đều cũng bắt đầu lộ diện, đặc biệt tại các khu vực ngoại vi, nơi bán kính
tiếp cận hạ tầng sạc còn hạn chế, trong khi nhu cầu di chuyển ngày càng tăng”, TS Hoàng nhận định.
Hệ thống hạ tầng sạc trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh hiện đã đạt quy mô hơn 1 triệu điểm sạc quy đổi. Ảnh minh họa.
Cũng theo TS Hoàng, một đặc điểm đáng chú ý khác là hành vi sử dụng hạ tầng sạc.
Dữ liệu thực tế cho thấy người dùng xe điện tại TP.Hồ Chí Minh có xu hướng tập trung
sạc vào các khung giờ cao điểm, gây áp lực đáng kể lên hệ thống lưới điện.
Điều
này không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn đặt ra yêu cầu về chính sách điều tiết
hành vi tiêu dùng năng lượng, chẳng hạn như cơ chế giá điện theo thời gian sử
dụng hoặc khuyến khích sạc ngoài giờ cao điểm.
Trong bối cảnh nhu cầu gia tăng
nhanh, câu hỏi lớn đặt ra không còn là “có cần phát triển hạ tầng sạc hay
không”, mà là “cần phát triển bao nhiêu và theo mô hình nào”.
Theo các kịch bản
dự báo do nhóm nghiên cứu trình bày, đến năm 2030, khu vực TP.Hồ Chí Minh mở rộng (bao
gồm Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu) sẽ cần khoảng 17.000 đến 23.000 trụ sạc công
cộng, trong đó hơn 80% tập trung tại khu dân cư. Đây là mức tăng trưởng rất lớn
so với hiện tại, đòi hỏi không chỉ nguồn lực đầu tư mà còn sự chuẩn bị đồng bộ
về quy hoạch và hạ tầng kỹ thuật.
Trong
giai đoạn tiếp theo, đến năm 2035, tỷ lệ 13 xe điện trên một trụ sạc được xem
là mức tối ưu để cân bằng giữa chi phí đầu tư và hiệu quả khai thác. Xa hơn,
đến giai đoạn 2040–2050, khi thị trường xe điện đạt độ trưởng thành, tỷ lệ này
có thể tăng lên khoảng 19 xe/trụ, phản ánh mức độ tối ưu hóa cao hơn của hệ thống.
Đối
với xe máy điện, phương tiện chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam, nhu cầu hạ tầng
có cấu trúc khác biệt. Theo ước tính, cần khoảng 13.000–15.000 tủ sạc cấp 1
trước năm 2030, chủ yếu bố trí tại hộ gia đình, kết hợp với hệ thống sạc công
cộng chiếm khoảng 60% tại các khu vực công cộng. Điều này cho thấy mô hình hạ
tầng sạc tại Việt Nam sẽ không giống hoàn toàn các quốc gia phát triển, mà mang
tính lai giữa sạc tại nhà và sạc công cộng.
Ở
góc độ quy hoạch không gian, kết quả khảo sát trên 164 địa phương cho thấy
TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã xác định được 62 điểm tiềm năng tại TP.Hồ Chí Minh, 15
điểm tại Bình Dương và 13 điểm tại Bà Rịa – Vũng Tàu có thể triển khai hạ tầng
sạc ngay trong ngắn hạn, nhờ quỹ đất sẵn có và khả năng đáp ứng của lưới điện.
Ngoài ra, khoảng 1.300 vị trí tiềm năng cho mô hình hoán đổi pin cũng đã được
xác định, trong đó riêng VinFast đã khảo sát và lựa chọn khoảng 625 vị trí phù
hợp.
Những
con số này của nhóm
nghiên cứu cho thấy dư địa phát triển hạ tầng của TP.Hồ Chí Minh là rất lớn, nhưng cũng đặt ra một yêu cầu quan
trọng: việc phát triển không thể diễn ra tự phát, mà cần một khung chính sách
rõ ràng để điều phối nguồn lực và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Và đây không chỉ là câu chuyện của
riêng TP.Hồ Chí Minh, đó là câu chuyện quy hoạch giao thông đô thị quốc gia.
BÀI TOÁN LIÊN HOÀN VỀ QUY HOẠCH HẠ TẦNG ĐÔ
THỊ, GIAO THÔNG VÀ NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA
Từ
góc nhìn doanh nghiệp, những rào cản hiện hữu cho việc thúc đẩy phương tiện giao thông
phát thải thấp đang trở nên ngày càng rõ rệt. Đại
diện Hiệp hội các nhà Sản
xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), cho biết vấn đề lớn nhất hiện nay là tiếp cận đất đai để xây dựng
trạm sạc. Phần lớn các vị trí phù hợp – như bãi đỗ xe công cộng, khuôn viên
chung cư hay hạ tầng giao thông – đều thuộc quản lý của Nhà nước, trong khi quy
định hiện hành chưa cho phép doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, tiếp
cận quỹ đất này một cách thuận lợi.
Song
song với đó là thủ tục cấp phép xây dựng và đấu nối điện còn phức tạp, kéo dài
thời gian triển khai dự án. Đối với các trạm sạc nhanh có công suất lớn, yêu
cầu về hạ tầng điện càng trở nên khắt khe hơn, trong khi năng lực lưới điện tại
nhiều khu vực chưa theo kịp nhu cầu.
Theo nghiên cứu của chuyên gia UNDP, tới 2030 tổng số trụ sạc công cộng cho ô tô điện có thể lên tới 23.000 trụ.
Một
điểm nghẽn khác mang tính dài hạn là bài toán xử lý pin thải. Khi số lượng xe
điện tăng nhanh, lượng pin hết vòng đời sẽ trở thành một vấn đề môi trường nếu
không có hệ thống tái chế phù hợp. Tuy nhiên, hiện Việt Nam chưa có cơ sở tái
chế pin xe điện quy mô công nghiệp, và khung pháp lý cho việc thu hồi, vận
chuyển, xử lý pin vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ.
Đại diện VAMA cũng nêu ý kiến về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện. Đối
với xe 4 bánh, một số tiêu chuẩn đã được xây dựng nhưng chưa ban hành chính
thức. Đối với xe 2 bánh – phân khúc chiếm tỷ trọng lớn, gần như chưa có bộ
tiêu chuẩn đầy đủ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến an toàn, mà còn cản trở khả
năng phát triển hệ sinh thái sạc dùng chung, khi mỗi doanh nghiệp có thể áp
dụng một chuẩn kết nối riêng.
Những
rào cản này, xét ở một góc độ khác, cũng chính là ba khoảng trống chính sách
lớn của thị trường hiện nay: thiếu cơ chế tiếp cận đất đai, thiếu quy hoạch
đồng bộ hạ tầng điện và thiếu hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất.
Trong
bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng ở việc khuyến khích, mà cần
chuyển sang kiến tạo thị trường. Điều này bao gồm việc xác lập rõ hạ tầng sạc
là một loại hạ tầng kỹ thuật đô thị, được hưởng các cơ chế ưu đãi tương tự như
điện, nước hay viễn thông; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để rút
ngắn quy trình cấp phép và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Ở
góc độ thị trường, một xu hướng đáng chú ý là sự tham gia ngày càng rõ nét của
các doanh nghiệp lớn. Việc một doanh nghiệp đặt mục tiêu đạt 10.000 điểm sạc
vào giữa năm 2025 và 30.000 điểm vào cuối năm 2026 cho thấy niềm tin vào tiềm
năng thị trường, nhưng đồng thời cũng phản ánh kỳ vọng về một môi trường chính
sách ổn định và minh bạch.
Đại diện UNDP nhận định: chuyển đổi xanh là một quá trình phức tạp, không
thể giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ. Đối với TP.Hồ Chí Minh, hạ tầng sạc chính là
một trong những “bài toán nền” cần được giải quyết đồng thời với các chính sách
về phương tiện, quy hoạch và năng lượng.
Trong
ngắn hạn, với hệ thống hiện hữu và các điểm tiềm năng đã xác định, thành phố có
thể đáp ứng nhu cầu của khoảng 35.000 xe điện mỗi ngày, đủ cho giai đoạn đầu
của thị trường. Tuy nhiên, khi quy mô phương tiện tăng lên, tốc độ phát triển
hạ tầng sẽ phải nhanh hơn đáng kể để tránh tình trạng “thắt cổ chai”.
Trong
dài hạn, câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu trụ sạc, mà là hệ thống đó được tổ
chức như thế nào, vận hành ra sao và tích hợp với các hệ thống khác đến mức
nào. Đây sẽ là yếu tố quyết định liệu quá trình chuyển đổi sang giao thông điện
tại TP.Hồ Chí Minh có thể diễn ra suôn sẻ hay không.
TP.HCM: Cần chuyển đổi từ chính sách đến hạ tầng khi phát triển giao thông phát thải thấp
11:13, 31/03/2026
Chuyển đổi giao thông xanh cần một lộ trình bài bản, dài hạn và triển khai đồng bộ
10:38, 18/03/2026
Hạ tầng giao thông TP.Hồ Chí Minh: “Đòn bẩy” tái cấu trúc tăng trưởng kinh tế xã hội
PV Drilling ra mắt giàn khoan PV DRILLING IX, nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bối cảnh thị trường khoan dầu khí khu vực bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) tiếp tục khẳng định tầm nhìn dài hạn bằng việc đầu tư và đưa vào hoạt động giàn khoan tự nâng đa năng PV DRILLING IX từ đầu tháng 4/2026 – một trong những dự án trọng điểm mang ý nghĩa chiến lược của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.
“Tiếp sức” cho hàng Việt từ chuyển đổi số và liên kết nguồn lực xã hội
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang nỗ lực "bắt tay" với các nền tảng số và đơn vị thanh toán để tạo "sức bật" mới cho hàng Việt. Mục tiêu đặt ra là đưa hàng Việt phủ sóng mạnh mẽ hơn ngay tại thị trường nội địa đầy tiềm năng...
Ký kết hợp tác truyền thông xúc tiến thương mại nông sản: Hướng tới nâng tầm giá trị và thương hiệu nông nghiệp Việt Nam
Lễ ký kết MOU giữa Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp và Tạp chí Kinh tế Việt Nam không chỉ là một thỏa thuận hợp tác thông thường, mà còn là bước khởi đầu cho một cách tiếp cận mới trong phát triển nông nghiệp. Với sự kết hợp giữa thế mạnh xúc tiến thương mại và năng lực truyền thông, hai bên kỳ vọng sẽ góp phần định vị lại hình ảnh nông nghiệp Việt Nam, không chỉ là một quốc gia xuất khẩu lớn mà còn là nền nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững...
Tái thiết Ukraine: Sẽ là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam
Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Ukraine đã vượt mốc 1 tỷ USD năm 2025, tăng từ gần 1 tỷ USD của năm 2024. Nhưng con số đó chỉ là phần nổi của một cơ hội lớn hơn nhiều: Ukraine đang bước vào giai đoạn tái thiết với nhu cầu ước tính gần 600 tỷ USD trong vòng 10 năm tới, và các doanh nghiệp nào tiếp cận đúng hướng, đúng thời điểm sẽ có lợi thế đáng kể...
Giá cà phê giảm do áp lực nguồn cung, xuất khẩu tăng lượng nhưng giá trị giảm
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 3/2026 ước đạt 210 nghìn tấn, tương đương giá trị 956,2 triệu USD. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng xuất khẩu đạt 577,3 nghìn tấn, thu về 2,71 tỷ USD, tăng 12,6% về lượng nhưng lại giảm 6,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: