Nhập khẩu nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm đạt hơn 22 tỷ USD, tăng 12,6%

Bức tranh nhập khẩu nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều nhóm hàng ghi nhận tăng trưởng đáng kể, trong khi nhập khẩu nhóm vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển trong cơ cấu nhập khẩu, đồng thời cho thấy hoạt động sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản tiếp tục mở rộng.

Nhập khẩu nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm đạt hơn 22 tỷ USD, tăng 12,6%

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam trong tháng 5/2026 ước đạt 4,73 tỷ USD, giảm 5,6% so với tháng trước nhưng tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng giá trị nhập khẩu toàn ngành đạt 22,28 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước.

HOA KỲ LÀ NGUỒN CUNG LỚN NHẤT

Trong cơ cấu nhập khẩu, nhóm nông sản đạt 14,35 tỷ USD, tăng 16,4%; sản phẩm chăn nuôi đạt 2,24 tỷ USD, tăng 29,7%; lâm sản đạt 1,49 tỷ USD, tăng 20,4%; thủy sản đạt 1,3 tỷ USD, giảm 0,5%. Nhóm vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt 2,88 tỷ USD, giảm 9,3%, trong khi nhập khẩu muối đạt 18,3 triệu USD, tăng 48,4%.

Về thị trường, châu Á và châu Mỹ tiếp tục là hai khu vực cung cấp nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam, chiếm lần lượt 32,6% và 21,8% tổng kim ngạch nhập khẩu. Các khu vực châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi có thị phần thấp hơn, lần lượt đạt 3,7%, 3,7% và 2,9%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu từ châu Á tăng 16,9%, châu Đại Dương tăng 22,9% và châu Phi tăng 13,9%, trong khi nhập khẩu từ châu Mỹ giảm 0,2% và từ châu Âu giảm 4,5%.

Xét theo từng thị trường, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Campuchia là ba nguồn cung nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt 10%, 9,6% và 9,4%. Giá trị nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng 25,8%, từ Trung Quốc tăng 20,4% và từ Campuchia tăng 23,2%.

NHẬP KHẨU HƠN 14 TỶ USD NÔNG SẢN

Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam tốn phí 14,35 tỷ USD để nhập khẩu nhóm các mặt hàng nông sản, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tháng 5/2026, lượng nhập khẩu hạt điều ước đạt 300 nghìn tấn với giá trị 507,1 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 1,5 triệu tấn hạt điều trị giá 2,6 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 25,2% về giá trị. Campuchia là nguồn cung hạt điều lớn nhất với thị phần 67,1%, tiếp theo là Tanzania chiếm 12,2%, Bờ Biển Ngà 8,3% và Nigeria 1,6%. Giá trị nhập khẩu từ Campuchia tăng 23,2%, từ Tanzania tăng 6,1%, từ Nigeria tăng 93,2%, trong khi nhập khẩu từ Bờ Biển Ngà tăng tới 5,5 lần.

Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 698 nghìn tấn cao su với giá trị 1,22 tỷ USD, tăng 2% về khối lượng và 2,4% về giá trị. Giá nhập khẩu bình quân đạt 1.741 USD/tấn, tăng nhẹ 0,3%. Campuchia, Trung Quốc và Hàn Quốc là ba thị trường cung cấp cao su lớn nhất, chiếm lần lượt 22,5%, 19,7% và 12% thị phần. Trong khi nhập khẩu từ Campuchia giảm 24,1%, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 21% và từ Hàn Quốc tăng 5,6%.

Đối với nhóm rau quả, giá trị nhập khẩu tháng 5 ước đạt 250 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch đạt 1,3 tỷ USD, tăng 31,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc là nguồn cung lớn nhất với thị phần 39,5%, tiếp theo là Hoa Kỳ với 26,4% và Australia với 6,9%. Giá trị nhập khẩu từ các thị trường này đều tăng mạnh, lần lượt tăng 46,7%, 36,9% và 59,3%.

Trong nhóm hàng nông sản, đậu tương là mặt hàng ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật. Tháng 5/2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 480 nghìn tấn đậu tương với giá trị 224,6 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, khối lượng nhập khẩu đạt 1,6 triệu tấn, trị giá 766,3 triệu USD, tăng 72,4% về lượng và 78,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Lúa mì cũng ghi nhận mức tăng mạnh. Trong tháng 5, lượng nhập khẩu ước đạt 250 nghìn tấn với giá trị 71,5 triệu USD. Tính chung 5 tháng, Việt Nam nhập khẩu 4,2 triệu tấn lúa mì trị giá 1,09 tỷ USD, tăng 54,6% về khối lượng và 49,8% về giá trị. Giá nhập khẩu bình quân đạt 257,6 USD/tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nhóm sản phẩm chăn nuôi đạt giá trị nhập khẩu 472,3 triệu USD trong tháng 5, nâng tổng kim ngạch 5 tháng lên 2,24 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 695,3 triệu USD, tăng 20,3%; nhập khẩu thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 910,5 triệu USD, tăng 26,1%.

Ngược lại, nhập khẩu thủy sản có xu hướng chững lại. Giá trị nhập khẩu tháng 5 đạt khoảng 270 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 5 tháng lên 1,3 tỷ USD, giảm nhẹ 0,5% so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ, Na Uy và Indonesia là ba nguồn cung thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt 16,3%, 11,3% và 11,2%. Trong đó, nhập khẩu từ Ấn Độ tăng 11,5%, từ Na Uy tăng 2,7%, còn từ Indonesia giảm 29%.

Nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 5/2026 ước đạt 350 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, kim ngạch đạt 1,46 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Lào là ba nguồn cung lớn nhất, chiếm lần lượt 38%, 21,9% và 3,5% tổng giá trị nhập khẩu. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng tới 2,1 lần, trong khi từ Lào tăng 7,8% và từ Trung Quốc tăng 6,2%.

NHẬP KHẨU VẬT TƯ ĐẦU VÀO GIẢM

Đối với phân bón, tháng 5/2026 Việt Nam nhập khẩu khoảng 420 nghìn tấn với giá trị 146,1 triệu USD. Tính chung 5 tháng, lượng nhập khẩu đạt 1,8 triệu tấn, trị giá 600,5 triệu USD, giảm 24,1% về khối lượng và giảm 19,8% về giá trị.

Giá nhập khẩu bình quân đạt 334,7 USD/tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc, Nga và Lào là ba nhà cung cấp lớn nhất, chiếm lần lượt 45,5%, 17% và 8,6% thị phần.

Trong khi đó, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1,77 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2025. Hoa Kỳ, Argentina và Trung Quốc là ba nguồn cung chủ lực, chiếm lần lượt 22%, 17% và 12,5% tổng giá trị nhập khẩu.

Trái với xu hướng giảm của thức ăn chăn nuôi, nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu tăng 16,9%, đạt 505,6 triệu USD trong 5 tháng đầu năm. Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với thị phần 45,2%, tiếp theo là Ấn Độ 15,3% và Hàn Quốc 6,5%.

Ngành hồ tiêu nâng chất lượng để giữ vững vị thế xuất khẩu

Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...

Thiếu hạ tầng kỹ thuật, khó giao dịch carbon với thị trường quốc tế

Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.

Những tác động từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đối với Việt Nam

Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Quy định mới về việc cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bởi hành vi cưỡng bức lao động

Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động từ các doanh nghiệp, quốc gia, vùng lãnh thổ phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy