Kế hoạch không chỉ hướng tới kim ngạch xuất khẩu mà còn tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng GRDP chung của Thủ đô từ 11% trở lên.
PHẤN ĐẤU TĂNG TRƯỞNG MẠNH TẠI CÁC THỊ TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM
Theo Kế hoạch số 22/KH-UBND do Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Mạnh Quyền ký ban hành ngày 15/01/2026, Hà Nội xác định mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu theo khu vực thị trường đạt từ 7% đến 15%.
Thành phố chủ trương duy trì sự ổn định tại các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN. Đồng thời, Hà Nội sẽ tận dụng tối đa lợi thế từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP, VIFTA... và đẩy mạnh khai thác các thị trường tiềm năng mới tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
Về cơ cấu ngành hàng, Thành phố tập trung thúc đẩy các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng cao và công nghệ cao. Các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể cho từng ngành hàng chủ lực được đặt ra như sau: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng từ 11% đến 14%; sản phẩm thủ công mỹ nghệ, gốm sứ kỳ vọng mức tăng cao nhất từ 12% đến 18%; hàng dệt may, da giày phấn đấu tăng từ 10% đến 13%; nông sản và thực phẩm chế biến mục tiêu tăng từ 10% đến 15%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng từ 10% đến 14%.
Đối với các nhóm doanh nghiệp, Thành phố đặc biệt chú trọng vai trò của doanh nghiệp FDI (dự kiến tăng 10-12%) và doanh nghiệp lớn trong nước (tăng 12-13%). Mở rộng nhóm doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp thêm từ 10% đến 15%.
Đáng chú ý, Hà Nội đặt mục tiêu ít nhất 30% doanh nghiệp hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ của Thành phố sẽ có đơn hàng xuất khẩu mới. Các sản phẩm làng nghề, OCOP cũng được kỳ vọng tăng tối thiểu 20% về số lượng sản phẩm tham gia xuất khẩu.
HOÀN THIỆN HẠ TẦNG LOGISTICS, THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ XUYÊN BIÊN GIỚI
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Hà Nội triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là hoàn thiện hạ tầng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ. Tăng ít nhất 10% số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics nội địa; giảm chi phí logistics đầu vào và đầu ra trong chuỗi xuất khẩu ở mức hợp lý; tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu được truy xuất nguồn gốc điện tử.
Thành phố sẽ phối hợp đầu tư chuẩn hóa hệ thống logistics bao gồm: kho bãi, bãi container, cảng ICD và các trung tâm logistics đa phương thức, kết nối đồng bộ giữa cảng biển, đường bộ, đường cao tốc và sân bay. Đặc biệt, xu hướng "logistics xanh" và giảm phát thải carbon được ưu tiên để đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường khắt khe của thị trường quốc tế.
Trong kỷ nguyên số, Hà Nội đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu thông qua thương mại điện tử xuyên biên giới, phấn đấu tăng từ 15% đến 20% số doanh nghiệp tham gia, hỗ trợ xây dựng gian hàng số và triển khai chiến lược tiếp thị quốc tế; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc điện tử và quản lý dữ liệu xuất nhập khẩu; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục trong các lĩnh vực thuế, hải quan và tăng cường triển khai dịch vụ công trực tuyến để giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp.
Đồng thời, Thành phố sẽ tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm Hà Nội ra thị trường quốc tế. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ sở đào tạo cũng sẽ được thắt chặt nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mở rộng số lượng doanh nghiệp hỗ trợ công nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng xuất khẩu của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp quy mô lớn; tăng số sản phẩm của Hà Nội được xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu tại thị trường xuất khẩu.
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại, xuất khẩu, thuế, hải quan; tăng cường triển khai dịch vụ công trực tuyến; giảm chi phí giao dịch. Tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp - cơ sở đào tạo - hiệp hội ngành hàng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đẩy mạnh kết nối khai thác, ứng dụng dữ liệu về xuất nhập khẩu trong công tác quản lý nhà nước; hỗ trợ dự báo thị trường; cung cấp thông tin minh bạch – kịp thời…
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển xanh và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất...
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.