Xung quanh Quyết định này, Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Hoài Nam, Phó Tổng giám đốc dịch vụ kiểm toán & đảm bảo, Deloitte Vietnam.
Luật 69/2014/QH13 được ban hành vào ngày 26/11/2014 (gọi tắt là Luật 69), cùng với các văn bản hướng dẫn dưới luật quy định về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp nhà nước về cơ bản đã tạo được môi trường pháp lý đầy đủ hơn cho hoạt động quản lý, đầu tư, cũng như sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.
Sau khi có hiệu lực và được triển khai, Luật 69 đã tác động và đem lại một số chuyển biến tích cực trong việc đảm bảo tôn trọng và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp có vốn nhà nước, cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, theo đánh giá chung thì hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước được nâng cao hơn. Nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn sau cổ phần hóa, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng đạt mức khá, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập bình quân của người lao động, tổng nộp ngân sách nhà nước, cũng như khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân đều tăng; số lượng doanh nghiệp có sự tham gia của vốn đầu tư nước ngoài tăng.
Tuy nhiên, những chuyển biến này chưa thực sự tương xứng với các lợi thế, cũng như quy mô về tổng tài sản và nguồn vốn của các doanh nghiệp này.
Có thể khẳng định chủ trương cổ phần hóa là đúng đắn, trong đó, một trong những chủ trương cổ phần hóa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả quản lý vốn nhà nước cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Trên thực tế, tốc độ cổ phần hóa, cũng như hiệu quả sử dụng vốn sau cổ phần hóa thực sự chưa theo đúng kế hoạch của Chính phủ và kỳ vọng của doanh nghiệp. Điều này cũng đã có nhiều phân tích từ các bộ, ngành, địa phương và các chuyên gia liên tục đánh giá trong những năm qua.
Bản thân các cơ quan chủ quản/địa phương cũng đã đưa ra văn bản bao gồm chế tài xử lý lãnh đạo nếu để tiến độ cổ phần hóa chậm. Theo quan sát độc lập của chúng tôi, do những chậm trễ về thời gian nên hiệu quả quản lý chưa được tối ưu, được đánh giá trên ba góc nhìn sau:
Xét từ góc nhìn về vấn đề trách nhiệm bảo toàn vốn, các quy định về trách nhiệm, trọng trách bảo toàn vốn của doanh nghiệp nhà nước phần nào tác động đến khả năng phát huy tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tỷ lệ cổ phần chào bán ra công chúng hoặc tỷ lệ cổ phần do cổ đông chiến lược nắm giữ tại nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Nói cách khác, sau khi cổ phần hóa, nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối, khiến bản chất của hoạt động kinh doanh, cơ chế quản lý điều hành tại nhiều doanh nghiệp không có sự hay đổi.
Từ góc nhìn về việc phân bổ nguồn lực, tính đến thời điểm hiện tại, bên cạnh công tác cổ phần hóa chậm, thì vốn nhà nước đang đầu tư vào nhiều loại hình kinh doanh. Do vậy, nguồn lực kinh tế và năng lực quản lý không tập trung được vào những khu vực kinh tế, ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm để điều tiết, ổn định nền kinh tế vĩ mô.
Xét trên phương diện về vấn đề đa nhiệm, bên cạnh việc duy trì hoạt động kinh doanh, một số doanh nghiệp nhà nước còn thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng - an ninh, ổn định và điều tiết kinh tế vĩ mô… Khi không tách biệt được hoạt động kinh doanh thông thường và hoạt động mang tính chất chính trị, thì kết quả hoạt động kinh doanh sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lực của doanh nghiệp.
Công tác cổ phần hóa đã được chú trọng về mặt chất lượng trong giai đoạn 2016 – 2020. Tuy nhiên, tiến trình còn rất chậm so với kế hoạch đã được phê duyệt: chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp nhà nước trong danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoàn thành cổ phần hóa.
Theo đánh giá của chuyên gia Deloitte chúng tôi, nguyên nhân chủ yếu là do việc xác định và thẩm định giá trị của doanh nghiệp khá phức tạp. Công tác này đòi hỏi nhiều thời gian và đội ngũ chuyên gia có năng lực, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước có nhiều tài sản như các quyền khai thác, quyền sử dụng đất.
Từ năm 2020, cộng hưởng thêm yếu tố khách quan do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên một số lĩnh vực bị tác động nặng nề, ảnh hưởng tới doanh thu & lợi nhuận của doanh nghiệp, theo đó, cũng ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị doanh nghiệp, và ảnh hưởng tới việc phê duyệt giá trị doanh nghiệp đối với những doanh nghiệp được định giá trước thời điểm bùng nổ đại dịch.
Việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược thường mất nhiều thời gian. Nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước không chủ động tìm kiếm cổ đông chiến lược, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa tại doanh nghiệp. Đồng thời, nhiều nhà đầu tư không mặn mà với việc trở thành cổ đông chiến lược của doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Quyết định số 22/2021/QĐ-TTg ra đời, sẽ thay thế quyết định số 58/2016/QĐ-TTg với mục đích tạo ra sự linh hoạt.
Thứ nhất, quyết định 22 đưa ra tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, trong khi quyết định 58 ngoài đưa ra tiêu chí phân loại doanh nghiệp có vốn nhà nước còn thống kê cụ thể danh mục các doanh nghiệp có vốn nhà nước cần sắp xếp lại, thay đổi tỷ lệ vốn điều lệ do nhà nước nắm giữ, trong đó bổ sung một số ngành quan trọng sẽ được nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ như lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn; tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí.
Như vậy, Quyết định 22 được đánh giá là linh hoạt hơn cho doanh nghiệp, người đại diện phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp chủ động rà soát và phân loại đúng theo đúng tiêu chí ngành, lĩnh vực đã ban hành.
Thứ hai, theo quy định của Quyết định số 22, công ty mẹ được quyền chủ động xây dựng đề án tái cơ cấu doanh nghiệp do công ty mẹ đầu tư vốn, và xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu về phương án này.
Hai điểm mới của Quyết định 22 rõ ràng tạo được sự linh hoạt, chủ động trong công tác sắp xếp đổi mới doanh nghiệp có vốn nhà nước. Công ty mẹ, người đại diện phần vốn góp của nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu được chủ động phân loại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo tiêu thức đã công bố, đồng thời xây dựng đề án tái cơ cấu dựa trên đánh giá hoạt động của doanh nghiệp.
Do vậy, việc tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động cho các cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp và thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Chính phủ Việt Nam ủng hộ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Malaysia (PETRONAS) mở rộng đầu tư, hợp tác khai thác dầu khí, phát triển các dự án năng lượng và kết nối lưới điện Việt Nam - Malaysia - Singapore, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và đáp ứng nhu cầu điện phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Sáng 17/10, tại Nhà Quốc hội, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI khai mạc với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công năm 2027.
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, sáng ngày 16/10/2026...
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, mạo danh cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội, công an hoặc cán bộ phường/xã để tiếp cận người dân, lợi dụng nhu cầu tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục và giải quyết quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản.