Mặc dù các doanh nghiệp nhà nước giữ một vai trò quan trọng ở Việt Nam như ở nhiều nền kinh tế mới nổi và đang phát triển khác, song việc cơ cấu lại các doanh nghiệp này để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, và chính trị là một trong những ưu tiên quan trọng của Chính phủ.
Mới đây, Quyết định 22/2021/QĐ-TTg thay thế cho Quyết định 58/2016/QĐ-TTg cho thấy hy vọng tiến độ sẽ được đẩy nhanh với việc chỉ ban hành tiêu chí phân loại và chú trọng đến sự phân cấp phân quyền. Nếu lấy mốc 2025 để cơ bản đảm bảo hoàn tất việc cơ cấu lại khối doanh nghiệp nhà nước thì cần quyết liệt thực hiện bỏ lượng lấy chất sớm nhất có thể.
Tiến trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được xem là một nhiệm vụ quan trọng kể từ Đại hội IX qua Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9. Sau 20 năm, mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước vẫn cần phải quyết liệt hơn để thực sự có được những doanh nghiệp lớn mạnh, hiệu quả và là trụ cột của nền kinh tế.
Trong các phương án cơ cấu lại, nổi bật nhất là chuyển đổi sở hữu hay còn gọi là cổ phần hóa, sắp xếp lại, và thoái vốn. Trong số này, hoạt động cổ phần hóa có phần chững lại gần đây sau khi đã thực hiện cổ phần hóa hơn 600 doanh nghiệp nhà nước trong gian đoạn 2011-2020. Riêng giai đoạn từ 2016 đến tháng 6/2021 có 183 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, trong số này chỉ có 39 doanh nghiệp có tên trong danh sách 128 doanh nghiệp phải cổ phần hóa theo Quyết định của Thủ tướng trước đây. Như vậy, việc hoàn thành mục tiêu trong 6 tháng còn lại của năm 2021 là hầu như không thể.
Việc thoái vốn trong giai đoạn 2016-2020 đã đem về cho ngân sách 177.397 tỷ đồng, gấp 6,5 lần giá trị sổ sách. Riêng Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đã thoái vốn tại 136 doanh nghiệp, thu về 37.185 tỷ đồng, gấp 5,5 lần giá trị sổ sách.
Những khó khăn trong việc cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại gần đây được cho là do hầu hết các doanh nghiệp đều có quy mô lớn, có tình hình tài chính phức tạp, sở hữu nhiều bất động sản nên không đơn giản trong việc định giá, hoặc hoạt động trong lĩnh vực công ích, gắn liền với các mục tiêu an sinh xã hội của địa phương.
Theo dự kiến, tiếp sau Quyết định 22/2021/QĐ-TTg, sẽ có kế hoạch tổng thể sắp xếp lại khoảng 500 doanh nghiệp cấp 1 và khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp cấp 2,3. Việc cơ cấu lại lần này nên như thế nào?
Dù có những điểm chưa hài hòng nhưng thế giới phải thừa nhận sự phát triển và thành công của việc cấu trúc lại các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc thời gian qua. Năm 2019, Trung Quốc có 82 doanh nghiệp nhà nước nằm trong bảng xếp hạng Fortune’s Global 500. Bằng cách nào Trung Quốc có được nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn và hiệu quả?
Trung Quốc thành lập Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản Quốc gia (State-owned Assets Supervision and Administration Commission, SASAC) năm 2003 để quản lý các DNNN ở nước này. Lãnh đạo Trung Quốc đã quay lại và thực hiện quyết liệt chiến lược cải tổ doanh nghiệp nhà nước đã có từ năm 1997 là “zhuada fangxiao”, tức “bỏ nhỏ nắm lớn”.
Theo đó, hai chiến lược cốt lõi là sáp nhập các doanh nghiệp lớn thành các tập đoàn và tư nhân hóa hoàn toàn các doanh nghiệp nhỏ. Việc giữ lại và sáp nhập các doanh nghiệp được đánh giá trên các tiêu chí như: các doanh nghiệp phải là tiêu biểu, mang tính đại diện trong ngành, có nhiều tiềm năng hoạt động hiệu quả, và có khả năng thực hiện việc cải tổ thành công.
Vào năm 2015, Trung Quốc dự định phân chia doanh nghiệp nhà nước thành hai nhóm: thương mại và công ích nhưng cuối cùng đến năm 2017, chia thành ba nhóm là công nghiệp, đầu tư, và vận hành. SASAC hay chính phủ Trung Quốc không quản lý trực tiếp các doanh nghiệp nhà nước nữa mà chỉ quản lý các tập đoàn đầu tư hay vận hành, và các tập đoàn này tham gia quản lý các doanh nghiệp riêng lẻ thông qua việc quản lý vốn.
Nhưng thành công của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc không chỉ ở việc sắp xếp lại, mà còn quan trọng hơn là ở cách thực hiện quản trị doanh nghiệp (governance).
Các giám đốc điều hành và ban giám đốc phải ký các hợp đồng làm việc dựa trên hiệu quả của doanh nghiệp, với nhiều chi tiết đánh giá hiệu quả khác nhau. Chẳng hạn vừa đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn (ROE) nhưng cũng vừa đánh giá chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) nếu doanh nghiệp nhà nước đó có niêm yết trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, việc bổ sung người chuyên nghiệp từ bên ngoài (independent directors) vào ban điều hành cũng là cách nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.
Việt Nam về tổ chức hiện nay cũng khá tương đồng với Trung Quốc khi có Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC) được thành lập vào năm 2018 và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được thành lập vào năm 2005.
Tuy nhiên, với hơn 1.500 doanh nghiệp nhà nước cần được cơ cấu lại trong thời gian tới thì bài học từ SASAC là rất đáng để tham khảo: chỉ giữ các doanh nghiệp lớn hiệu quả và thực hiện sáp nhập để tạo ra những doanh nghiệp nhà nước là đòn bẩy của nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ. Tăng cường nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, gắn liền hiệu quả của doanh nghiệp với hợp đồng làm việc của lãnh đạo doanh nghiệp. Và ngoài ra, chính phủ quản lý doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ quản lý vốn chứ không phải quản lý tài sản.
Doanh nghiệp nhà nước là một thành phần không thể thiếu được của nền kinh tế, nhất là một nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Việt Nam. Nhưng doanh nghiệp nhà nước không cần ở số lượng nhiều, mà cần ở chất lượng và quy mô vì bên cạnh hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp nhà nước còn phải gánh thêm hiệu quả về xã hội và chính trị. Áp lực với các doanh nghiệp nhà nước và ban lãnh đạo ở những nơi này là rất lớn nhưng bù lại họ cũng có được những lợi thế hay hỗ trợ và doanh nghiệp ở khu vực khác không có được. Khi quyền lợi và trách nhiệm được quy định rõ ràng, tạo được động lực thì luôn có những người giỏi chấp nhận thử thách. Vì với thành công của doanh nghiệp nhà nước thì lãnh đạo doanh nghiệp cũng thành công theo cả 3 tiêu chính: kinh tế, xã hội, và chính trị.
------------------
(*) Giảng viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM, IPAG Business School Paris và AVSE Global.




Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Liên bang Nga góp phần thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nga.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, tạo đột phá trong hợp tác năng lượng, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Đức củng cố tin cậy chính trị, tận dụng EVFTA, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, công nghệ, kinh tế xanh và đào tạo nhân lực.
Sáng 19/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về tới Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Liên bang Nga.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nga, đồng thời đề nghị Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.