
Đến thời điểm hiện tại, cả hai nhà máy bauxite Tây Nguyên là Nhà máy alumin Tân Rai và Nhà máy alumin Nhân Cơ đều đã chạy vượt công suất thiết kế 9%.
Thông tin được ông Đặng Thanh Hải, Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết tại hội nghị tổng kết công tác năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021 hôm 21/1.
Ông Hải cho biết, năm 2020, sản lượng than nguyên khai sản xuất đạt 38,5 triệu tấn, bằng 100% kế hoạch, sản lượng than tiêu thụ đạt 42 triệu tấn. Tuy nhiên, đáng chú ý, sản lượng điện, sản lượng Alumin sản xuất năm 2020 của TKV đạt cao nhất từ trước đến nay.
Cụ thể, Alumin sản xuất tổng số 1,42 triệu tấn, bằng 109% kế hoạch. Tiêu thụ đạt 1,40 triệu tấn đạt 109% kế hoạch. Tiêu thụ đồng tấm 13.000 tấn, tăng 7% so với 2019; kẽm thỏi 12.000 tấn, các sản phẩm thiếc thỏi, vàng, bạc... đạt 100% kế hoạch. Đặc biệt sản xuất điện đạt 10,6 tỷ kWh, bằng 108% thực hiện năm 2019, đây là kết quả cao nhất kể từ khi thành lập Tổng công ty Điện lực TKV.
TKV cũng đặt kế hoạch cho 2 nhà máy alumin Tân Rai và alumin Nhân Cơ trong năm 2021 1,3 triệu tấn (mỗi nhà máy 650.000 tấn alumin quy đổi).
Cũng theo thông tin từ TKV, năm 2020, tập đoàn này đã sản xuất 80.000 tấn thuốc nổ các loại, bằng 116% kế hoạch; cung ứng 122.000 tấn thuốc nổ, bằng 108% kế hoạch. Sản xuất nguyên liệu sản xuất thuốc nổ Nitorat Amon 172.860 tấn, bằng 111% kế hoạch, tăng 8% so với năm 2019.
Các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, vật liệu xây dựng cũng đạt được nhiều kết quả tích cực, đảm bảo kế hoạch cả về sản lượng, chất lượng và doanh thu…
TKV cũng cung cho biết, doanh thu toàn tập đoàn năm 2020 đạt 123.425 tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 19.500 tỷ đồng; lợi nhuận đạt gần 3.000 tỷ đồng. Con số lợi nhuận thông tin tại hội nghị trên khá bất ngờ bởi trước đó, chia sẻ với báo giới, lãnh đạo TKV cho biết lợi nhuận năm 2020 của TKV đạt khoảng 2.600 tỷ đồng, sụt giảm mạnh 35% so với con số hơn 4.000 tỷ đồng trong năm trước đó.
Các chỉ số kinh doanh khác như: hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu hợp nhất toàn tập đoàn các công ty là 1,96 lần, giảm 0,76 lần so với đầu nhiệm kỳ (năm 2016); trong đó, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Công ty mẹ-TKV là 1,2 lần, giảm 0,78 lần so với đầu nhiệm kỳ.
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) toàn tập đoàn 5,85%, tăng 240% so với đầu nhiệm kỳ. Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) toàn Tập đoàn 4,42%, tăng 80% so với đầu nhiệm kỳ. Phát hành thành công 2.000 tỷ trái phiếu doanh nghiệp.
Tổng tài sản năm 2020 là 127 nghìn tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2019; vốn góp chủ sở hữu 35 nghìn tỷ đồng (bằng vốn điều lệ). Như vậy, tập đoàn và các công ty thành viên đã bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh. Năng suất lao động toàn tập đoàn tính theo sản lượng than tiêu thụ quy đổi (đối với sản xuất than) đạt 784/773 tấn/người/năm, bằng 101,5% kế hoạch.
Tập đoàn TKV cho biết, từ việc duy trì sản xuất, kinh doanh ổn định, TKV đã đảm bảo việc làm, thu nhập cho hơn 96.000 người lao động với tiền lương bình quân chung là 12,8 triệu người/tháng. Trong đó, sản xuất than 13,8 triệu đồng/người/ tháng, bằng 100,7% kế hoạch và bằng 100,8% thực hiện 2019. Tiền lương thợ lò đạt 20 triệu đồng/người/tháng cao hơn năm 2019.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.