Thảo luận tại hội trường chiều ngày 8/12 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026- 2030, một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm cho ý kiến đó là việc khuyến khích doanh nghiệp khu vực nhà nước và tư nhân tham gia nghiên cứu, đầu tư phát triển điện hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR).
CÁCH TIẾP CẬN MỚI CHO PHÉP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC LÀM ĐIỆN HẠT NHÂN MÔ-ĐUN NHỎ
Theo đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, đoàn Lâm Đồng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi năng lượng sâu rộng, trong khi yêu cầu về an ninh năng lượng, giảm phát thải và duy trì tăng trưởng ở mức cao ngày càng trở nên cấp thiết. Những thách thức này đòi hỏi phải có những lựa chọn chiến lược dài hạn, trong đó SMR là một hướng đi đáng cân nhắc và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
SMR có ưu thế quy mô linh hoạt, công suất vừa và nhỏ, có thể triển khai theo dạng module, thời gian xây dựng ngắn hơn, đảm bảo an toàn thụ động cao và đặc biệt thích hợp để thay thế, dừng các nguồn điện than cũ hoặc bổ sung công suất nền ổn định cho điện lưới quốc gia.
Thực tế trên thế giới, SMR không còn là câu chuyện thí điểm, nhiều quốc gia đã thương mại hóa hoặc đang đi rất nhanh như: Mỹ, Canada, Pháp và Anh... Một số quốc gia châu Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam cũng đang lựa chọn SMR cho các khu vực hạ tầng yếu, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Điểm chung của các nước không đặt gánh nặng đầu tư lên duy nhất Nhà nước, mà huy động các tập đoàn năng lượng, công nghiệp chế tạo, công nghệ môi trường cùng tham gia.
Từ thực tế đó, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh bày tỏ quan điểm đồng tình với quy định khuyến khích doanh nghiệp khu vực nhà nước và tư nhân tham gia nghiên cứu, đầu tư phát triển điện hạt nhân mô-đun nhỏ, bởi đã mở ra một cơ chế linh hoạt hơn rất nhiều so với cách tiếp cận truyền thống.
“Điện hạt nhân trước đây gần như chỉ do Nhà nước đảm nhận, quy mô dự án lớn, thời gian đầu tư dài và yêu cầu kỹ thuật rất cao. Với SMR, cách tiếp cận mới cho phép huy động sáng tạo kỹ thuật, tăng khả năng nội địa hóa và chủ động công nghệ”, đại biểu nhấn mạnh.
Theo phân tích của nữ đại biểu đoàn Lâm Đồng, lĩnh vực này đòi hỏi nguồn lực lớn, công nghệ cao, chuỗi cung ứng dài hạn. Nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì không thể tạo được hệ sinh thái công nghiệp hạt nhân hiện đại. Việc huy động doanh nghiệp nhà nước cùng doanh nghiệp tư nhân sẽ giúp đa dạng hóa nguồn lực, chia sẻ rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, nhiều nước đã chứng minh mô hình công– tư mang lại hiệu quả cao. Doanh nghiệp tư nhân có động lực đầu tư, tiếp cận công nghệ nhanh, còn doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, bảo đảm an ninh– an toàn và định hướng chiến lược. Sự kết hợp này giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, thử nghiệm và triển khai dự án.
Việc khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu và đầu tư SMR cũng đồng nghĩa mở ra cơ hội hình thành ngành công nghiệp chế tạo mô-đun trong nước, tạo việc làm chất lượng cao và nâng vị thế khoa học công nghệ của Việt Nam trong chuỗi giá trị hạt nhân toàn cầu.
CÁCH TIẾP CẬN THẬN TRỌNG, THÍ ĐIỂM TRƯỚC KHI MỞ RỘNG ĐIỆN HẠT NHÂN MÔ-ĐUN NHỎ
Tuy nhiên, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng phát triển SMR phải đi kèm với điều kiện: an toàn- trách nhiệm- minh bạch. Điện hạt nhân luôn đòi hỏi những tiêu chuẩn cao nhất về an toàn, an ninh và quản lý rủi ro. Việc khuyến khích doanh nghiệp tham gia không có nghĩa là “mở cửa hoàn toàn” mà phải dựa trên 3 trụ cột.
Thứ nhất, cần xây dựng khung pháp lý riêng cho SMR, bao gồm cấp phép thiết kế, thẩm định công nghệ, giám sát vận hành và kiểm soát chất thải phóng xạ.
Thứ hai, yêu cầu năng lực tài chính, năng lực công nghệ, và trách nhiệm môi trường rõ ràng đối với mọi doanh nghiệp tham gia, bảo đảm Nhà nước giữ vai trò kiểm soát cuối cùng.
Thứ ba, triển khai thận trọng, có lộ trình, bắt đầu từ dự án nghiên cứu – thử nghiệm – trình diễn, đánh giá kỹ tác động xã hội và môi trường, lấy ý kiến cộng đồng một cách minh bạch. “Khuyến khích không phải là buông lỏng, mà là tạo hành lang để những chủ thể có năng lực thực sự phát triển công nghệ mới, trong khi Nhà nước giữ vai trò điều tiết và giám sát tối cao”, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh.
Đồng tình quan điểm này, đại biểu Nguyễn Thị Lan, đoàn TP.Hà Nội nhận định việc lựa chọn công nghệ điện hạt nhân mô-đun nhỏ trong giai đoạn hiện nay là phù hợp. Tuy nhiên, mục tiêu trước mắt chủ yếu là phục vụ nghiên cứu, đào tạo nhân lực và từng bước làm chủ công nghệ, chưa thể kỳ vọng ngay vào hiệu quả kinh tế ngắn hạn.
Do đó, giai đoạn đầu cần có vai trò dẫn dắt của Nhà nước. "Rất khó thu hút khu vực tư nhân khi suất đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và rủi ro cao", đại biểu phân tích.
Song, đại biểu kiến nghị cách tiếp cận cần thận trọng, sau khi Việt Nam tích lũy đủ kinh nghiệm, kiểm soát tốt an toàn, hoàn thiện khung pháp lý và làm chủ công nghệ cốt lõi, lúc đó mới từng bước mở rộng quy mô để thu hút tư nhân. Lộ trình đi từ mô-đun nhỏ đến mô-đun lớn là cách tiếp cận thận trọng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Cùng góc nhìn cần thận trọng khi đầu tư phát triển điện hạt nhân mô-đun nhỏ, đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn Đồng Tháp nhấn mạnh đây là lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ cao về an toàn tính mạng và tài sản người dân nếu xảy ra sự cố. Do đó, đại biểu đề nghị bước đầu chỉ nên cho phép thực hiện thí điểm.
Ngoài ra, đại biểu cho rằng quy định khuyến khích doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân tham gia nghiên cứu đầu tư như hiện tại còn quá chung chung, cơ quan soạn thảo cần làm rõ hơn nội dung này.
Đại biểu Nguyễn Thị Lệ Thủy, đoàn Vĩnh Long nhận định, việc mở rộng cho tư nhân tham gia theo quy định của dự thảo Nghị quyết mới chỉ dừng lại ở “dạng khẩu hiệu”, khuyến khích chung chung, thiếu khung chính sách cụ thể. Hơn nữa, với thời hạn Nghị quyết chỉ trong 5 năm, đại biểu bày tỏ băn khoăn, việc triển khai loại hình này là khó khả thi, do đó cần xem xét kỹ lưỡng hơn.
“Năng lượng là mạch máu của nền kinh tế. Trong bối cảnh cam kết Net Zero vào năm 2050 đang đến gần và nhu cầu điện năng ngày càng lớn, chúng ta cần những "cú hích" táo bạo nhưng khoa học. SMR là cơ hội để Việt Nam vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa từng bước làm chủ công nghệ cao”.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng việc trao quyền cho cả khu vực tư nhân tham gia lĩnh vực này thể hiện sự tin tưởng của nhà nước vào năng lực của doanh nghiệp Việt, đồng thời khẳng định quyết tâm trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. “Tuy nhiên, cũng cần tiếp cận thật thận trọng, để phát triển điện hạt nhân mô-đun nhỏ một cách an toàn, hiệu quả, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia”.
Một doanh nghiệp công nghệ sạch tại Croatia đang biến những dung môi công nghiệp bị ô nhiễm, vốn được xem là chất thải nguy hại, thành nguyên liệu có thể quay trở lại dây chuyền sản xuất. Mô hình này cho thấy kinh tế tuần hoàn không chỉ giúp giảm chất thải mà còn mở ra một hướng tiết kiệm tài nguyên, chi phí và phát thải carbon cho doanh nghiệp…
Từ lõi dừa, bã cà phê đến bã mía, vỏ trấu hay phụ phẩm trong chế biến nông sản, những nguồn nguyên liệu từng được xem là phần bỏ đi đang được đưa vào các quy trình công nghệ để tạo ra vật liệu và sản phẩm mới.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đề xuất cắt giảm mạnh đối tượng phải Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), bổ sung nhiều đối tượng được miễn ĐTM và giảm đối tượng phải có Giấy phép môi trường…
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Hướng dẫn kỹ thuật quy trình kiểm kê khí nhà kính và đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV) trong ĩnh vực trồng trọt. Đây sẽ là một bộ cẩm nang kỹ thuật đồng bộ, tạo hành lang cho công tác kiểm kê khí nhà kính, MRV cấp ngành và địa phương thực hiện...
Áo cùng Czechia, Hungary, Slovakia và Ba Lan đang thúc đẩy Liên minh châu Âu (EU) điều chỉnh thị trường carbon theo hướng linh hoạt hơn. Nguyên nhân là do chi phí khử carbon quá cao trong khi hạ tầng năng lượng chưa sẵn sàng có thể khiến đầu tư và sản xuất dịch chuyển ra ngoài châu Âu…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo hơn 5,1 triệu lượt khách hàng; gần 1,7 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau cảnh báo, với tổng giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng.