Tại Việt Nam, khung khổ pháp lý cho thị trường carbon đã được thiết lập nền tảng qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. Một trong những điểm có ý nghĩa chiến lược của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là việc lần đầu tiên được quy định rõ về cơ chế thị trường carbon trong nước, bao gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon và sàn giao dịch carbon quốc gia.
Theo các chuyên gia, đây là bước ngoặt quan trọng thể hiện tư duy đổi mới của người Việt Nam trong quản lý khí nhà kính, phù hợp với các cam kết quốc tế mà nước ta đã tham gia, đặc biệt là Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà Thủ tướng Chính phủ đã công bố tại Hội nghị COP26.
Để hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường carbon, ngày 24/1/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.
Đáng chú ý, ngày 19/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam...
Nghị định quy định các hoạt động liên quan đến sàn giao dịch carbon trong nước, gồm đăng ký, cấp mã trong nước, chuyển quyền sở hữu, lưu ký, giao dịch và thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đủ điều kiện được giao dịch theo quy định; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý sàn giao dịch carbon trong nước và chế độ báo cáo, công bố thông tin…
Mới đây nhất, ngày 9/2/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025- 2026.
Theo Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025- 2026 phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng. Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2tđ. Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2tđ.
Có thể thấy, chính sách của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các nghị định, thông tư hướng dẫn đã đặt nền móng pháp lý rõ ràng cho việc hình thành và vận hành thị trường carbon trong nước, bao gồm sàn giao dịch tín chỉ carbon, dự kiến vận hành chính thức từ năm 2029.
Các chuyên gia nhấn mạnh, thị trường carbon có tiềm năng rất lớn và mang ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam, trước hết với vai trò công cụ huy động tài chính xanh hiệu quả. Đây là nguồn lực quan trọng để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đồng thời thúc đẩy chuyển dịch nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh các yêu cầu xanh, giảm phát thải khí nhà kính ngày càng chặt chẽ, đặc biệt với các lĩnh vực phát thải lớn, nhiều doanh nghiệp sẽ đối mặt với thực tế không phải mọi giải pháp giảm phát thải đều có thể triển khai ngay do hạn chế về vốn, công nghệ và thời gian. Do đó, việc từng bước hình thành và vận hành thị trường carbon trong nước có ý nghĩa chiến lược, không chỉ về mặt tuân thủ, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp.
Theo bà Nguyễn Hồng Loan, Giám đốc Công ty TNHH Kiến tạo Khí hậu xanh (GreenCIC), “thị trường carbon tạo ra một cơ chế linh hoạt, cho phép doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính theo lộ trình phù hợp hơn, đồng thời khuyến khích các quyết định đầu tư hiệu quả về chi phí.
"Quan trọng hơn, đây là công cụ giúp doanh nghiệp làm quen với các cơ chế định giá carbon, minh bạch phát thải và quản trị rủi ro carbon, những yêu cầu đang dần trở thành chuẩn mực chung trên các thị trường quốc tế”.
Khi được thiết kế và triển khai hiệu quả, thị trường carbon không chỉ giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà còn mở ra khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho chuyển dịch xanh.
Từ góc độ chiến lược, thị trường carbon không chỉ là một công cụ chính sách, mà còn là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước thích ứng với “luật chơi” xanh mới của thương mại toàn cầu, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế.
Nghiên cứu mới đây do GreenCIC thực hiện trong khuôn khổ Hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình Đối tác Chuyển đổi Năng lượng (ETP) ước tính, việc vận hành thị trường carbon trong nước có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ từ 400-800 triệu USD để đầu tư vào các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính.
Bên cạnh đó, nếu tham gia vào thị trường carbon quốc tế, Việt Nam có thể có tiềm năng thu hút được đầu tư từ 500 triệu đến 2 tỷ USD từ các nguồn hỗ trợ tài chính quốc tế về khí hậu và chuyển đổi xanh.
Chia sẻ vấn đề này khi thảo luận kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”, một số ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng phát triển thị trường carbon là công cụ quan trọng góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh.
Về cơ chế giao dịch tín chỉ carbon là một công cụ kinh tế thị trường, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tạo ra nguồn tài chính xanh để tái đầu tư cho các hoạt động phát triển bền vững. Đây không chỉ là cơ chế môi trường mà còn là cơ chế phát triển kinh tế mới, mở ra một thị trường tiềm năng hàng tỷ USD mỗi năm nếu tổ chức tốt. Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cơ chế này.
Thị trường tín chỉ carbon không chỉ giúp phát thải khí nhà kính mà còn tạo ra nguồn thu bền vững và cải thiện sinh kế cộng đồng. Theo Ngân hàng Thế giới, thị trường carbon toàn cầu có thể đạt giá trị 250 tỷ USD vào năm 2030.
Airbus đang tăng tốc phát triển thế hệ máy bay thân hẹp mới với mục tiêu ra mắt vào năm 2030, tích hợp nhiều công nghệ giúp giảm 20-30% mức tiêu thụ nhiên liệu. Song song đó, tập đoàn hàng không châu Âu cũng đẩy mạnh phát triển động cơ hydro, chuẩn bị cho kỷ nguyên hàng không phát thải thấp và cuộc cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt trên toàn cầu…
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Tầm nhìn đến năm 2050, TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp từ chuyển đổi năng lượng, phát triển hạ tầng chống chịu đến quản lý tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính nhằm nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu...
Ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam sẽ tổ chức Tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.