
Ngày 18/4, trường Đại học Thương mại đã tổ chức lễ công bố Báo cáo thường niên Kinh tế và Thương mại Việt Nam 2022 với chủ đề “Cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam”.
Đây là báo cáo nằm trong chuỗi báo cáo được xuất bản hàng năm và là báo cáo lần thứ 5 nhằm tổng kết các vấn đề kinh tế và thương mại lớn một năm qua, trong đó nhấn mạnh vào những vấn đề nổi bật trong năm và đề xuất các chính sách liên quan.
Về triển vọng năm 2023, Báo cáo cho biết tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ chịu nhiều áp lực do tăng trưởng của của nhiều nền kinh tế ở gần “bờ vực suy thoái” khi nhiều quốc gia buộc phải tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, xung đột tại Ukraine tiếp diễn cùng với hàng loạt vấn đề phát sinh khác như gián đoạn chuỗi cung ứng, đà tăng giá của nhiều mặt hàng nguyên vật liệu sản xuất…
Trong nước, áp lực lạm phát đối với nền kinh tế vẫn rất lớn do độ trễ của gói phục hồi và dấu hiệu hạ nhiệt lạm phát ở một số quốc gia chưa bền vững. Rủi ro với doanh nghiệp vẫn gia tăng trong bối cảnh cầu thị trường nước ngoài giảm, dòng tiền dần cạn kiệt sau 2 năm dịch bệnh trong khi doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn…
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng kinh tế trong năm 2023.
Ở kịch bản cơ sở, Báo cáo nhận định đây là kịch bản dễ xảy ra nhất với dự báo kinh tế thế giới triển vọng lạc quan, xung đột Nga – Ukraina hạ nhiệt và sự suy giảm kinh tế Trung Quốc, Mỹ cũng như các tác thương mại lớn của Việt Nam gây ra ít ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế trong nước.
Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2023 có thể đạt 6,56% và mức lạm phát bình quân của năm khoảng 3,35%.
Ở kịch bản cao, Báo cáo giả định kinh tế thế giới diễn biến tích cực hơn dự báo của các tổ chức quốc tế, từ đó, tác động tích cực tới kinh tế Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của kịch bản này có thể đạt 7,02% và lạm phát bình quân của năm khoảng 4,12%.
Ở kịch bản thấp, nhóm nghiên cứu dự báo tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt khoảng 6,12% do kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; sự suy suy giảm mạnh của các nền kinh tế lớn cũng như các đối tác thương mại lớn của Việt Nam và xung đột Nga – Ukraine vẫn tiếp tục dai dẳng, gia tăng áp lực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Báo cáo thường niên Kinh tế và Thương mại Việt Nam 2022 - Cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu do GS.TS Đinh Văn Sơn chủ biên cùng với các nhà khoa học trong và ngoài trường thực hiện.
Báo cáo được kết cấu gồm 4 phần chính:
Phần 1: Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2022, trong đó nêu bật bức tranh toàn cảnh và những nét nổi bật về kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam trong bối cảnh mới thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam.
Phần 2: Thương mại Việt Nam 2022, đánh giá về tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ, cân đối cung cầu của một số mặt hàng thiết yếu, thị trường và chủ thể tham gia thương mại; phương thức, loại hình và nhượng quyền thương mại; phát triển một số loại hình hạ tầng thương mại, cán cân thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa theo mặt hàng, thị trường, chính sách quản lý và phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa.
Phần 3: Thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2022, trình bày bối cảnh thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam như sự trỗi dậy của Trung quốc và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, đại dịch COVID-19, xung đột Nga - Ucraina và các lệnh trừng phạt.
Ngoài ra, phần này tập trung phân tích thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới và tác động đến Việt Nam như Thương mại và đầu tư quốc tế; Thị trường tài chính tiền tệ; Cấu trúc ngành và liên ngành kinh tế; Cấu trúc vùng kinh tế; Hệ sinh thái số và xã hội số và vấn đề an ninh lương thực.
Phần 4: Dự báo kinh tế, thương mại và hàm ý chính sách cho Việt Nam năm 2023.
Trên phân tích, đánh giá thay đổi cấu trúc kinh tế thế giới và Việt Nam những năm qua, cũng như xu hướng của nền kinh tế, biến động về chính trị thế giới và cơ hội, thách thức đối với Việt Nam, phần này của báo cáo đã đưa ra những dự báo về kinh tế, thương mại và một số hàm ý chính sách áp dụng cho Việt Nam năm 2023 và những năm tiếp theo.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Bộ Xây dựng vừa ban hành quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 gồm 46 tuyến với tổng chiều dài khoảng 10.106km, đồng thời bổ sung thêm 5 tuyến cao tốc mới và điều chỉnh tiến trình đầu tư nhiều tuyến quan trọng...
Trong báo cáo gửi Bộ Xây dựng, ACV đề xuất đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác thương mại từ ngày 1/12/2026 theo lộ trình 3 giai đoạn, đồng thời áp dụng gói ưu đãi giảm 20-50% giá dịch vụ hàng không nhằm thu hút các hãng bay chuyển hoạt động từ Tân Sơn Nhất...
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026 ghi nhận những tín hiệu khởi sắc. Tuy nhiên, để đạt mức tăng trưởng 10%, nền kinh tế không chỉ cần khơi thông nguồn vốn và giải quyết “điểm nghẽn” mà còn phải đối mặt với áp lực về năng suất lao động...
Không chỉ dừng lại ở bài toán lợi nhuận thương mại, các doanh nghiệp startup đổi mới sáng tạo đang dần chuyển dịch sang xu hướng đầu tư tạo tác động. Song để tiếp cận những “dòng vốn xanh”, các doanh nghiệp trẻ buộc phải chứng minh năng lực quản trị minh bạch, sự cam kết về những giá trị tử tế mà họ mang lại cho xã hội…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.