Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 9, sáng 9/5, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi).
Tại phiên thảo luận, một trong những nội dung nhận được sự quan tâm của nhiều đại biểu Quốc hội là việc áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát theo Tiêu chuẩn Việt Nam có hàm lượng đường trên 5g/100ml.
Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội, trong bối cảnh nền kinh tế đang chịu nhiều áp lực từ bên ngoài và còn nhiều bất ổn ở khu vực tiêu dùng, dịch vụ thì việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt với nước giải khát có đường cần được cân nhắc một cách kỹ lưỡng để đảm bảo tính bao quát, toàn diện.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (đoàn Thái Bình) cho rằng việc bổ sung nước giải khát có đường vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu nguy cơ thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống.
"Tuy nhiên, việc này ở thế giới và tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng lại chưa có cơ sở khoa học vững chắc để khẳng định rằng, nước giải khát có đường là nguyên nhân chính và duy nhất gây ra tình trạng thừa cân, béo phì", đại biểu chỉ ra.
Đại biểu cho biết rằng theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, thừa cân, béo phì là hệ quả của nhiều nguyên nhân như thói quen ít vận động, chế độ ăn uống không hợp lý, yếu tố di truyền hoặc bệnh lý. Hơn nữa, nghiên cứu của Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách năm 2023 đã chỉ ra rằng, học sinh khu vực thành thị có tỷ lệ béo phì cao hơn nhưng lại tiêu thụ nước ngọt thường xuyên thấp hơn học sinh khu vực nông thôn. Mặt khác, việc hấp thụ đường còn tùy vào cơ địa của từng người. Điều này cho thấy chưa đủ cơ sở khoa học để quy kết nước giải khát có đường là nguyên nhân chính gây ra thừa cân, béo phì.
Ngoài ra, việc chỉ áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt lên nhóm nước giải khát đóng gói sẵn có hàm lượng đường trên 5g/100ml có thể gây hiểu nhầm và dẫn đến hành vi tiêu dùng thay thế không mong muốn.
:Người tiêu dùng có thể chuyển sang các loại thực phẩm và đồ uống khác có hàm lượng đường tương đương hoặc cao hơn nhưng không thuộc diện chịu thuế. Ví dụ trà sữa, nước trái cây đường phố, cà phê pha sẵn. Những nước này vốn khó kiểm soát cả về chất lượng và hàm lượng đường", đại biểu Dung phát biểu.
Theo bà, trong bối cảnh hiện tại, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta vẫn còn tiềm ẩn nhiều thách thức, sức mua suy giảm, doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, thị trường lao động chưa phục hồi hoàn toàn và các chính sách hỗ trợ hậu Covid-19 đang trong quá trình chuyển tiếp thì việc đưa vào áp dụng một sắc thuế mới hoặc điều chỉnh tăng thuế suất nếu thực hiện quá sớm có thể làm gia tăng gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, tổng cầu và ổn định kinh tế vĩ mô.
"Vì vậy, tôi kiến nghị cần lùi thời điểm áp dụng quy định đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với nước giải khát có hàm lượng đường 5g/100ml bắt đầu từ năm 2028 nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nghiên cứu, điều chỉnh sản phẩm, đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm thay thế", đại biểu Dung nêu ý kiến.
Thay vì áp dụng mức thuế như quy định của dự thảo luật hiện nay thì chúng ta nên áp dụng lộ trình tăng dần theo từng giai đoạn, ví dụ thay vì 8% thì có thể từ 3% - 7% rồi đến 10% để giúp doanh nghiệp có thời gian thích nghi, đồng thời có thể xem xét áp dụng mức thuế khác nhau tùy hàm lượng đường trong sản phẩm nhằm khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công thức theo hướng giảm đường, hướng đến tiêu dùng lành mạnh.
Đồng quan điểm, đại biểu Mai Văn Hải (đoàn Thanh Hóa) cho rằng đối với quy định về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nước giải khát có hàm lượng đường 5h/100ml sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ngành sản xuất nước giải khát trong nước, nhất là các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa chịu gánh nặng, tăng thêm chi phí, khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu sẽ khó khăn.
Giá thành sản phẩm tăng khiến cho tiêu dùng sẽ giảm, ảnh hưởng đến doanh thu và việc làm của người lao động. Hơn nữa, còn ảnh hưởng tới người nông dân vì ngành nước giải khát sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước như mía đường, trái cây, cà phê…
Theo đại biểu Hải, nguyên nhân chính dẫn đến béo phì, tiểu đường và các bệnh không lây nhiễm có nhiều nguyên nhân khác nhau như sử dụng bánh kẹo, sữa có đường và nhiều đồ ngọt khác chứ không riêng việc sử dụng nước giải khát có đường.
Do đó, đại biểu Hải đề nghị cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra cần có cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng hơn nữa những tác động ảnh hưởng từ việc áp thuế để có những biện pháp thực hiện hoặc lộ trình thực hiện phù hợp. Tại thời điểm hiện nay, đại biểu Mai Văn Hải đề nghị chưa xem xét đánh thuế đối với nước giải khát.
Đại biểu cho rằng việc áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát có đường có thể ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và sản phẩm tự nhiên khác.
"Khái niệm nước giải khát có đường theo tiêu chuẩn của Việt Nam chưa được định nghĩa cụ thể, dẫn đến lo ngại sản phẩm tự nhiên như nước dừa, nước trái cây có thể bị đánh đồng với nước ngọt có ga. Thực tế, có khoảng 200.000 nông dân trồng dừa và hàng trăm doanh nghiệp chế biến rất lo lắng sản phẩm nước dừa chế biến của họ có thể bị coi là nước giải khát chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc áp dụng mức 10% cho nước gọt có ga là chưa phù hợp, ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp", đại biểu Hải phân tích.
Với bất cập trên, đại biểu đề nghị lùi thời điểm áp thuế 1 năm, áp mức 8% năm đầu và 10% các năm tiếp theo. Giải pháp này sẽ giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh sản xuất, người dân thay đổi dần thói quen, Nhà nước đạt mục tiêu bảo vệ sức khỏe và hài hòa lợi ích của các bên.
Đại biểu Cầm Thị Mẫn (đoàn Thanh Hóa) cũng cho rằng với việc áp thuế đối với mặt hàng mới cần phải có lộ trình chuẩn bị dài hơi, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và gánh nặng về thuế, phí. Đặc biệt, khi Mỹ áp dụng thuế đối ứng lên tới 46% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam. Ngoài ra, Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược cũng kiến nghị nên áp mức thuế suất 5% đối với nhóm sản phẩm lần đầu tiên bị áp thuế tiêu thụ đặc biệt để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến nền kinh tế.




Các tập đoàn và quỹ đầu tư quốc tế đánh giá Nghị quyết số 10 đã phát đi thông điệp rõ ràng về chuyển đổi tư duy thu hút đầu tư, từ coi trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước sẽ quyết định sức hấp dẫn của Việt Nam trong giai đoạn mới…
Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW là nâng chất lượng dòng vốn thông qua đổi mới sáng tạo, công nghệ và hiệu quả lan tỏa. Những định hướng phát triển được TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng chia sẻ tại Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết đã phác họa rõ nét ba trụ cột của hệ sinh thái mới để cạnh tranh trong cuộc đua thu hút FDI toàn cầu…
Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomytrân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư phát huy tinh thần trách nhiệm, đổi mới sáng tạo đưa Nghị quyết số 10-NQ/TW vào cuộc sống. Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá, mục tiêu không phải thay thế nội lực mà để tăng cường nội lực, nâng cao năng lực tự chủ, hướng tới tăng trưởng bền vững, bao trùm và chất lượng cao.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển trong tư duy phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, từ mục tiêu thu hút vốn sang nâng cao chất lượng dòng vốn, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, hướng tới mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, đồng thời nâng hạng thị trường chứng khoán lên nhóm mới nổi...
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.