
Trong báo cáo vừa cập nhật, Chứng khoán KBSV cho rằng lãi suất huy động dự kiến biến động đi ngang ở vùng thấp, trong khi lãi vay tiếp tục giảm, hỗ trợ xu hướng thị trường chứng khoán năm 2024.
Tính đến ngày 26/12, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng đang ở mức 5,13%, giảm 2,9% so với đầu năm. Trong đó, VCB đã giảm xuống mức thấp kỷ lục 4,8%, trong khi các ngân hàng quốc doanh khác cũng duy trì trên mức 5%.
Mặt bằng lãi suất huy động đã ở vùng thấp lịch sử, thậm chí là về thấp hơn cả thời điểm Covid 19 đối với một số ngân hàng. Trong khi đó, lãi suất cho vay do có độ trễ, mới chỉ giảm khoảng 2% - 2,25% so với đầu năm. Do vậy, việc lãi suất hạ thêm trong năm 2024 là khó xảy ra trong bối cảnh lạm phát vẫn là yếu tố khó lường.
Theo đó, KBSV dự báo mặt bằng lãi suất huy động sẽ tiếp tục đi ngang ở vùng thấp trong hầu hết cả năm 2024 trong khoảng 4,85% - 5,35%. Dù vậy, lãi suất cho vay bình quân sẽ có dư địa để giảm thêm 0,75% - 1,0%, dựa trên những luận điểm sau:
Thứ nhất, cầu tín dụng nhiều khả năng sẽ phục hồi, tuy nhiên khó có đột biến. Do những khó khăn tồn đọng từ năm 2023 chưa thể được khắc phục triệt để trong năm sau. Kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ chỉ tăng trưởng quanh mức 6% với lĩnh vực bất động sản, khu vực có tỷ trọng đóng góp cao trong tăng trưởng tín dụng, chưa thể hồi phục mạnh mẽ. Theo đó, áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay từ phía cầu sẽ chưa lớn. Dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2024 sẽ đạt mức quanh 12% - 13%, thấp hơn mức bình quân 14,5% trong 10 năm qua.
Thứ hai, Ngân hàng ghi nhận COF giảm, sau giai đoạn lãi suất huy động giảm mạnh, giúp lãi suất cho vay có dư địa giảm thêm, dù không quá nhiều do các ngân hàng thận trọng về nợ xấu và kênh trái phiếu vẫn chưa phục hồi. Tình hình kinh tế khó khăn trong năm 2023 đã khiến nợ xấu của toàn hệ thống tăng quý thứ tư liên tiếp, lên mức 2,2%.
Dự báo tình hình nợ xấu trong năm 2024 có thể phình to do thông tư 02 hết hiệu lực và bộ đệm dự phòng của các ngân hàng thu hẹp. Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn sẽ là kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp khi thị trường trái phiếu vẫn chưa phục hồi, trong khi áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2024 cao kỷ lục lên tới gần 300 nghìn tỷ. Do đó, lãi suất cho vay khó có thể giảm sâu.
Thứ ba, chính sách điều hành của NHNN vẫn theo hướng nới lỏng khi mà áp lực lạm phát và tỷ giá hạ nhiệt. Cụ thể, với việc xu hướng giảm lạm phát đang diễn ra ở hầu hết các nền kinh tế lớn trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc, 2 đầu tàu tăng trưởng kinh tế thế giới, được dự bảo sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm sau, lạm phát toàn cầu sẽ tiếp tục xu hướng giảm trong năm 2024, hỗ trợ xu hướng ổn định lạm phát của Việt Nam.
Đối với tỷ giá, việc FED đảo chiều hạ lãi suất trong năm 2024, sẽ giúp áp lực tỷ giá không còn là yếu tố đáng ngại trong năm sau. Trong kịch bản cơ sở, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục giảm 50 điểm cơ bản lãi suất điều hành và tỷ giá sẽ giảm khoảng 0,5% trong năm 2024.
Tăng trưởng cung tiền M2 trong năm 2023 chỉ 5,6% tính đến hết tháng 9, thấp hơn hẳn mức tăng bình quân 14%/năm giai đoạn 2012-2021 với các nguyên nhân đến từ việc tăng trưởng huy động ở mức thấp (tương ứng với tăng trưởng tín dụng thấp), đầu tư công không được như kỳ vọng khiến 1 lượng tiền lớn vẫn đang tồn đọng tại kho bạc.
Dù vậy, với dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2024 có thể đạt quanh 12% - 13%, cán cân thanh toán dự kiến tiếp tục duy trì thặng dư cùng việc đồng USD suy yếu, giúp NHNN mua vào khoảng 10 tỷ USD, gia tăng dự trữ ngoại hối, và đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh, KBSV dự báo tăng trưởng cung tiền đạt 12,2% trong năm 2024.
Với việc mặt bằng lãi suất tiếp tục diễn biến thuận lợi và cung tiền M2 được mở rộng trong năm 2024, KBSV kỳ vọng đây là yếu tố hỗ trợ định giá thị trường, xét theo P/E của chỉ số VNIndex, đặc biệt trong bối cảnh lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết hồi phục trong năm sau. Theo đó, trong kịch bản thận trọng, P/E thị trường sẽ quay trở lại mức bình quân 2 năm ở 15,3 lần, từ mức 14,9 lần hiện tại.
Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh. Điểm đáng chú ý là dư nợ ký quỹ trong quý 2/2026 tiếp tục tăng so với quý 1. Điều này tạo áp lực tâm lý lên thị trường khi tỷ lệ ký quỹ đang ở mức cao...
Nhà đầu tư tổ chức trong nước hôm nay mua ròng 358,3 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối này mua ròng 168,8 tỷ đồng.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.