
Đưa hàng Việt vào hệ thống phân phối nước ngoài tại Việt Nam đã khó và càng khó hơn khi tiếp cận được hệ thống của họ tại nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp nản chí, từ bỏ giữa chừng. Song theo đại diện Bộ Công Thương, nếu vào được những hệ thống này, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ ở một vị thế mới.
Tại hội thảo "Kết nối doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi cung ứng của Tập đoàn Aeon", bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch Hà Nội cho rằng, Nhật Bản là thị trường yêu cầu cao nhất về mặt chất lượng sản phẩm, thậm chí cao hơn các quốc gia khác như Hoa Kỳ, EU... Ngoài ra, hàng loạt các luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, an toàn thực phẩm tại Nhật cũng rất chặt chẽ...
Nhiều doanh nghiệp nản chí
Đã và đang cùng Bộ Công Thương tổ chức nhiều chương trình xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp Việt Nam sang tiếp cận trực tiếp với các nhà bán lẻ trên nhiều hệ thống phân phối nước ngoài, điều khiến bà Nguyễn Thị Mai Anh trăn trở là sự nhụt chí của doanh nghiệp. Bà chia sẻ, thực tế nhiều doanh nghiệp ban đầu rất háo hức tham gia, nhưng sau vài lần thì từ bỏ do nhiều lý do. Đáng lo ngại, tình trạng này không chỉ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà cả các doanh nghiệp lớn.
Bà Mai Anh cho rằng, việc tiếp cận hệ thống phân phối nước ngoài tại Việt Nam đã không hề đơn giản huống hồ tiếp cận hệ thống phân phối nước ngoài tại nước ngoài. Aeon là tập đoàn bán lẻ lớn nhất tại Nhật Bản, để vào được hệ thống này, doanh nghiệp phải chuẩn bị hành trang về chất lượng, sản phẩm và giá thành. Chính vì thế, sự quyết định thành công chủ thể là doanh nghiệp.
Cùng quan điểm, bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ, Bộ Công Thương, nhìn nhận, việc đưa hàng Việt Nam vào hệ thống phân phối của Aeon nói riêng và các hệ thống phân phối nước ngoài là một quá trình rất dài và đòi hỏi phải làm ăn bài bản từ phía doanh nghiệp. Nhưng bù lại, nếu đưa được sản phẩm vào hệ thống phân phối nước ngoài, doanh nghiệp sẽ có một thị trường rộng lớn, bền vững và nâng cao được uy tín thương hiệu cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ông Shiotani Yuichiro, Tổng giám đốc Công ty TNHH Aeon TopValu Việt Nam cũng cho biết, hiện nay thị phần xuất khẩu của một số nước như Myanmar, Campuchia sang Nhật qua hệ thống Aeon tăng trưởng nhanh hơn Việt Nam. Một trong những nguyên nhân là do nguyên vật liệu, những sản phẩm hỗ trợ cho sản xuất của Việt Nam phần lớn nhập từ các nước thứ ba như Trung Quốc.
Chính vì vậy, cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam chủ yếu vẫn là chi phí nhân công. Đây cũng là điểm yếu của Việt Nam. Một nguyên do nữa, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam chưa đáp ứng được số lượng đơn hàng bởi sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Hơn nữa, mẫu mã sản phẩm Việt Nam chưa đa dạng, chất lượng chưa ổn định... cũng khiến lợi thế của hàng hoá Việt Nam giảm.
Cần cải tiến liên tục
Ông Shiotani Yuichiro cũng cho hay, mục tiêu của Aeon là muốn đặt hàng các nhà cung cấp Việt Nam số lượng lớn. Hiện tại, Aeon đang có chính sách không chú trọng giá thành mà nâng cao sản lượng bán ra. Chính sách này bắt đầu áp dụng từ tháng 3/2017 và lượng hàng bán ngày càng nâng cao.
"Chúng tôi đưa ra chính sách chuyển vùng nguyên liệu từ nhà cung cấp Trung Quốc với giá tương đối cao sang vùng nguyên liệu rẻ hơn như Campuchia, Myanmar, Việt Nam. Chúng tôi sẽ đặt hàng khối lượng lớn với các quốc gia này. Một số mặt hàng Aeon có kế hoạch mở rộng như socola, mỳ ăn liền, bánh chiên, hoặc các sản phẩm từ thịt gà, cá hồi...", ông Shiotani Yuichiro cho biết.
Để nhận được đơn hàng từ hệ thống Aeon, ông Ikeda Masahito, Bộ phận Chất lượng, Tập đoàn Aeon cho rằng, doanh nghiệp phải thay đổi, thực hiện nhiều cải tiến để đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu của Aeon.
Cụ thể, doanh nghiệp phải đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá trách nhiệm xã hội về nhân quyền, điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn đánh giá nhà máy về trang thiết bị đáp ứng chất lượng tiêu chuẩn sản phẩm của Aeon (nếu doanh nghiệp có Chứng chỉ ISO140001 và SA8000 được miễn).
Đặc biệt, tuân thủ 13 quy tắc như: không sử dụng lao động trẻ em từ 14 tuổi trở xuống; không cưỡng bức, ép buộc, thúc bách, giam giữ người lao động; an toàn vệ sinh đối với người lao động; tuân thủ thời gian lao động của quốc gia đó nếu có làm thêm giờ thì phải trả thù lao xứng đáng; phúc lợi người lao động...
Ngoài ra, doanh nghiệp sản xuất phải tuân thủ 4 vấn đề: ngăn chặn không cho sản xuất ra phế phẩm trong quá trình sản xuất; đánh giá mức độ tin cậy của nhà cung cấp; xác nhận trang thiết bị sản xuất cũng như môi trường làm việc và cơ chế quản lý kiểm tra đối với vật thể nguy hiểm; kiểm chứng các quy trình nội bộ và những ghi chép.
Đại diện Tham tán Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản cũng nhấn mạnh, việc xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đòi hỏi các sản phẩm của Việt Nam phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường khó tính này cả về kỹ thuật, chất lượng, mẫu mã sản phẩm và đơn giá.
Để đạt được các yêu cầu đó, ngoài việc nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu của thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt cần phải nâng cấp về dây chuyền sản xuất, quy mô nhà xưởng, đặc biệt là hệ thống quản lý chất lượng sản xuất và sản phẩm.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.