Trao đổi với VnEconomy, ông Marc Knapper, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2022–2026, trên cương vị mới là thành viên Hội đồng Cố vấn Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), nhấn mạnh: "Điều tạo sức hút lớn nhất của VIFC-HCMC chính là cơ hội tham gia sớm vào quá trình hình thành một trung tâm tài chính lớn tại một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á".
KHUNG PHÁP LÝ VỮNG CHẮC LÀ NỀN TẢNG TẠO NIỀM TIN
Với bề dày kinh nghiệm làm việc với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư Hoa Kỳ, ông đánh giá như thế nào về sức hút hiện tại của Việt Nam và VIFC-HCMC đối với các định chế tài chính, quỹ đầu tư và tập đoàn Hoa Kỳ?
Sự quan tâm dành cho Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ. Các nhà đầu tư Hoa Kỳ nhìn nhận được đà tăng trưởng kinh tế, sự ổn định chính trị, vị trí chiến lược và mức độ hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam là một trong những câu chuyện tăng trưởng dài hạn hứa hẹn nhất châu Á.
Điều các nhà đầu tư muốn thấy lúc này là những bước tiến tiếp theo trong việc hoàn thiện hệ sinh thái tài chính. Các nhà đầu tư tổ chức lớn thường quan tâm đến khả năng tiếp cận thị trường, tính linh hoạt của dòng vốn, mức độ minh bạch, quản lý rủi ro tỷ giá và sự chắc chắn về mặt pháp lý.
Tầm nhìn đằng sau VIFC-HCMC đang thu hút sự chú ý vì trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề trong số đó. Hạ tầng và khung pháp lý càng được củng cố, mức độ tham gia của các nhà đầu tư và định chế tài chính quốc tế càng có khả năng gia tăng.
Tôi cho rằng điều tạo sức hút lớn nhất của VIFC-HCMC chính là cơ hội tham gia sớm vào quá trình hình thành một trung tâm tài chính lớn tại một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Bên cạnh đó, mối quan tâm đáng kể còn tập trung vào các lĩnh vực như phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại hối, các sản phẩm quản trị rủi ro, hạ tầng tài chính số và giải pháp thanh toán xuyên biên giới.
Nhiều định chế tài chính hiểu rằng tăng trưởng tương lai của Việt Nam đòi hỏi các dịch vụ tài chính tinh vi hơn. Họ không chỉ quan tâm đến việc đầu tư vào Việt Nam, mà còn muốn góp phần xây dựng hệ thống và năng lực hỗ trợ cho sự tăng trưởng đó.
Theo ông, giữa ba yếu tố: khung pháp lý, chất lượng nhân lực và kết nối hạ tầng tài chính quốc tế, Việt Nam nên ưu tiên xây dựng theo thứ tự nào?
Cả ba yếu tố đều quan trọng, nhưng nếu phải chọn ưu tiên, tôi sẽ bắt đầu từ nền tảng pháp lý và quy định. Sự bảo vệ pháp lý vững chắc tạo dựng niềm tin; niềm tin thu hút định chế; định chế tạo ra nhu cầu về nhân lực và kết nối sâu hơn.
Nếu thiếu sự chắc chắn về pháp lý, ngay cả nhân lực đẳng cấp thế giới hay công nghệ tiên tiến cũng không thể bù đắp hoàn toàn những lo ngại của nhà đầu tư. Ngược lại, khi nhà đầu tư tin tưởng vào luật chơi, dòng vốn và chuyên môn sẽ tự tìm đến.
Những trung tâm tài chính thành công, như DIFC ở Dubai, AIFC ở Astana hay GIFT City ở Ấn Độ, đều tuân theo quy trình cơ bản khi xây dựng gồm: tính chắc chắn pháp lý, thanh toán, lưu ký và quản trị rủi ro phải dễ dự báo. Họ xây nền móng trước, thu hút người sau.
Ông từng có cơ hội tiếp cận nhiều mô hình trung tâm tài chính trên thế giới. Theo ông, Việt Nam nên học hỏi mô hình nào trong quá trình xây dựng VIFC-HCMC?
Câu hỏi đúng không phải là "học theo mô hình nào" mà là "nguyên tắc nào cần tuân theo". Việt Nam không cần và cũng không thể trở thành Hong Kong hay Singapore, hai trung tâm đó được xây dựng trong những điều kiện lịch sử và địa lý không thể tái lập.
Điều Việt Nam có thể học từ Dubai hay Astana là cách xây dựng một khu vực tài phán đặc thù với khung pháp lý riêng biệt, ưu đãi rõ ràng và có thể dự báo dài hạn. AIFC ở Astana áp dụng luật Common Law của Anh ngay trong nội khu, tạo ra môi trường pháp lý quen thuộc với nhà đầu tư quốc tế. DIFC ở Dubai xây dựng tòa án độc lập với thẩm phán quốc tế và hồ sơ phán quyết minh bạch. Đây là những lựa chọn cấu trúc, không phải thẩm mỹ.
Sai lầm phổ biến nhất là tập trung vào quy mô và sự hiện diện sớm của các nhà đầu tư, nói cách khác là thu hút càng nhiều tên tuổi càng tốt trước khi hạ tầng nền tảng sẵn sàng. Điều đó tạo ra hiệu ứng hình thức nhưng không tạo ra giá trị thực. Các định chế tài chính có thể vào sớm nhưng không có môi trường vận hành đủ điều kiện thì sẽ chỉ duy trì hiện diện ở mức tối thiểu, không mở rộng và không đóng góp vào chiều sâu của thị trường.
CẦN KHOẢNG 10.000 NHÂN LỰC CAO CẤP ĐỂ VẬN HÀNH
VIFC-HCMC sẽ vận hành bởi ai? Ông đánh giá thế nào về thực trạng nguồn nhân lực tài chính của Việt Nam hiện nay?
Đây là một trong những thách thức cấu trúc quan trọng nhất mà VIFC-HCMC sẽ phải đối mặt. Tháng 6 vừa qua, chúng tôi tổ chức một hội thảo chuyên đề về nhân lực tại TP. Hồ Chí Minh, với sự tham gia của khoảng 30 chuyên gia từ các trường đại học, hiệp hội nghề nghiệp trong và ngoài nước, bao gồm Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc và Hiệp hội Quốc tế các Cơ quan Giám sát Bảo hiểm (IAIS).
Đánh giá chung là: nguồn nhân lực ở tầng đầu vào của Việt Nam khá tốt. Có nhiều ứng viên trẻ được đào tạo bài bản có thể đảm nhận các vị trí phân tích và vận hành tại các ngân hàng hay quỹ đầu tư. Khoảng trống lớn nhất nằm ở tầng quản lý và lãnh đạo cấp cao - những người vừa có chiều sâu chuyên môn tài chính, vừa có năng lực điều hành tổ chức theo chuẩn quốc tế. Ước tính cần thêm khoảng 10.000 nhân sự cấp cao để VIFC vận hành ở quy mô đủ cạnh tranh.
Theo ông, khoảng trống đó cần được lấp bằng cách nào?
Có ba nguồn cần khai thác song song, không phải tuần tự.
Thứ nhất: Người Việt đang làm việc ở nước ngoài (tại Singapore, Hong Kong, London hay New York). Đây là những người có thể được thu hút trở về nếu điều kiện đủ cạnh tranh về mặt tài chính và nghề nghiệp.
Thứ hai: Cộng đồng Việt kiều. Hiện có khoảng 6 triệu người tại Hoa Kỳ, Australia, châu Âu và Canada. Nhiều người trong số này có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực tài chính, đầu tư và quản trị. Chính phủ đang nới lỏng điều kiện mua bất động sản và đăng ký cư trú cho nhóm này. Đây là bước đi cần thiết nhưng chưa đủ, mà cần thêm cơ chế rõ ràng về điều kiện làm việc, thuế thu nhập và các quyền pháp lý cụ thể.
Thứ ba: Nhân tài quốc tế không có liên hệ với Việt Nam. Nhóm này sẽ so sánh TP.Hồ Chí Minh với Dubai, Singapore hay các trung tâm tài chính khác theo tiêu chí thuần túy kinh tế: thu nhập ròng, điều kiện sinh hoạt, chất lượng trường học quốc tế, và môi trường pháp lý cho người lao động nước ngoài. Để cạnh tranh được với Dubai hay Singapore cho nhóm này, Việt Nam cần đưa ra các điều kiện có thể so sánh được (không nhất thiết phải ngang bằng), nhưng phải đủ để thu hẹp khoảng cách.
Khoảng trống nhân lực cấp cao sẽ thu hẹp dần khi thế hệ trẻ trong nước trưởng thành và tích lũy kinh nghiệm qua thực chiến. Tuy nhiên, quá trình đó cần khoảng một thập kỷ. Trong thời gian đó, việc dựa vào nhân tài nhập khẩu ở tầng cấp cao là không thể tránh khỏi và cần được lập kế hoạch chủ động, không phải xử lý theo tình huống.
Tầm nhìn 5–10 năm tới, ông đặt kỳ vọng gì cho vị trí của VIFC-HCMC trong bản đồ tài chính khu vực?
Kỳ vọng thực tế là VIFC-HCMC được công nhận là một trung tâm tài chính có uy tín và kết nối tốt trong khu vực Đông Nam Á - không nhất thiết phải lớn nhất, nhưng phải đáng tin cậy nhất trong phân khúc mà trung tâm này lựa chọn phục vụ.
Thước đo thành công không phải là số lượng định chế tài chính, nhà đầu tư đặt văn phòng tại đây, mà là liệu nhà đầu tư có thực sự sử dụng trung tâm này để giải ngân vốn, quản trị rủi ro và thực hiện giao dịch hay không. Một trung tâm tài chính chỉ tồn tại khi có giao dịch thực, thanh khoản thực và người sử dụng thực.
Nếu trong 5–10 năm tới, VIFC-HCMC xây dựng được danh tiếng về quản trị minh bạch, hạ tầng thị trường đáng tin cậy và khả năng kết nối thực chất với các thị trường vốn quốc tế, trung tâm này sẽ tìm được vị trí riêng trong bức tranh tài chính khu vực. Đó là mục tiêu đủ cụ thể và đủ khả thi để hướng tới.
Điều tôi muốn nhấn mạnh thêm là "cửa sổ" cơ hội không mở mãi. Việt Nam đang đối mặt với thách thức nhân khẩu học (không nghiêm trọng như Nhật Bản hay Hàn Quốc hiện tại), nhưng xu hướng già hóa dân số là rõ ràng và đang đến gần hơn dự tính của nhiều người. Khoảng thời gian 5 – 10 năm tới là giai đoạn quan trọng nhất để Việt Nam tạo ra nền tảng tăng trưởng bền vững, trước khi cơ cấu dân số tạo thêm áp lực lên cân đối tài khóa và thị trường lao động. Trong bối cảnh đó, VIFC-HCMC không chỉ là một dự án tài chính, mà là một phần của chiến lược phát triển quốc gia với thời hạn rõ ràng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
TP.Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện, vận hành và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với thịt heo, thịt gia cầm và trứng gia cầm trong năm 2026, hướng tới minh bạch thông tin sản phẩm, tăng cường giám sát an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả quản lý trên toàn chuỗi cung ứng...
Thương mại Việt Nam – Đài Loan trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự bứt phá kỷ lục với sự dẫn dắt tuyệt đối từ nhóm hàng công nghệ cao. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả tăng trưởng và khai thác hiệu quả dư địa thị trường Đài Loan trong giai đoạn nửa cuối năm 2026 cũng như các năm tiếp theo, rất cần một sự chuẩn bị kỹ càng về chiến lược phát triển thị trường, xúc tiến thương mại phù hợp...
Việc Việt Nam và EFTA hoàn tất đàm phán FTA đã mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động và các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn. Bên cạnh lợi thế từ cắt giảm thuế quan, việc EU hạn chế khai thác thủy sản cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng xuất khẩu sang các nước EFTA...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.