Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Mía đường Việt Nam, đến cuối tháng 6/2026, ngành đường Việt Nam đã bước vào giai đoạn cuối của vụ ép 2025-2026. Phần lớn các nhà máy đã kết thúc vụ ép, chỉ còn một số nhà máy khu vực miền Trung - Tây Nguyên tiếp tục hoạt động do vào vụ muộn.
Lũy kế từ đầu vụ, toàn ngành đã ép khoảng 13,3 triệu tấn mía và sản xuất khoảng 1,298 triệu tấn đường các loại. Đây là mức sản lượng tương đối ổn định, phản ánh năng lực sản xuất của ngành vẫn được duy trì. Tuy nhiên, trái ngược với kết quả sản xuất, thị trường tiêu thụ lại diễn biến theo chiều hướng bất lợi.
Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho biết nguồn cung trên thị trường hiện rất dồi dào, bao gồm đường sản xuất từ mía trong nước, đường nhập khẩu từ các nước ASEAN và lượng đường nhập lậu. Nguồn cung lớn khiến giá đường trong nước tiếp tục giảm và đang ở mức thấp nhất trong ba năm gần đây.
Đáng chú ý, lượng tiêu thụ đường sản xuất từ mía trong tháng 6/2026 đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm. Mặc dù đường sản xuất trong nước có chất lượng tốt và giá bán cạnh tranh, việc tiêu thụ vẫn rất khó khăn. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ tình trạng dư cung mà còn do thị trường bị chi phối bởi đường nhập lậu và đường không rõ nguồn gốc xuất xứ.
Về giá đường tại ba thị trường lớn gồm Hà Nội, miền Trung và TP. Hồ Chí Minh gần như đi ngang trong suốt tháng 6/2026. Cụ thể, giá đường kính trắng phổ biến dao động khoảng 15.600-16.200 đồng/kg, trong khi đường tinh luyện ở mức khoảng 16.900-17.200 đồng/kg.
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo là so sánh giá đường giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Theo quy đổi của Hiệp hội Mía đường Việt Nam, giá đường bình quân tại Việt Nam chỉ khoảng 16.505 đồng/kg. Trong khi đó, giá đường tại Philippines đạt khoảng 27.315 đồng/kg, tương đương 165% giá của Việt Nam; Indonesia khoảng 26.946 đồng/kg, tương đương 163%; còn Trung Quốc khoảng 19.646 đồng/kg, tương đương 119%. Như vậy, Việt Nam hiện là quốc gia có giá đường thấp nhất trong nhóm các nước sản xuất đường lớn trong khu vực.
Trong khi giá đường nội địa giảm sâu, thị trường thế giới lại có diễn biến trái chiều. Theo thông tin của Tổ chức Đường quốc tế (ISO), nửa đầu tháng 6 giá đường thô và đường trắng trên thị trường kỳ hạn giảm do giá dầu thế giới đi xuống trong bối cảnh căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Iran có dấu hiệu hạ nhiệt. Tuy nhiên, nửa cuối tháng 6, giá đường trắng phục hồi nhờ nguồn cung tại Liên minh châu Âu giảm, cán cân cung - cầu tại Ấn Độ thắt chặt, cùng tác động của hiện tượng El Niño và những bất ổn tại Trung Đông.
Bình quân trong tháng 6, chỉ số giá đường thô ISA giảm xuống còn 13,9 cent/pound, thấp hơn đáng kể so với tháng trước. Ngược lại, giá đường trắng theo chỉ số ISO tăng lên khoảng 456 USD/tấn.
Lý giải nguyên nhân lớn nhất khiến đường sản xuất trong nước gặp khó, Hiệp hội Mía đường Việt Nam, cho biết không chỉ đến từ nguồn cung lớn mà còn từ hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại.
Báo cáo nêu rõ, đường nhập lậu, đường không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn chiếm lĩnh thị trường. Hoạt động mua bán chủ yếu thực hiện bằng tiền mặt, không xuất hóa đơn nhằm che giấu doanh thu và trốn thuế, tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu bình đẳng đối với các doanh nghiệp sản xuất đường từ mía.
Trong tháng 6, lực lượng chức năng tại Quảng Trị đã phát hiện liên tiếp ba vụ vận chuyển đường kính trắng không rõ nguồn gốc trên Quốc lộ 9 với tổng khối lượng khoảng 6 tấn. Các lô hàng đều không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp và đã được bàn giao cho lực lượng quản lý thị trường xử lý.
Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho biết mặc dù các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều đợt cao điểm chống buôn lậu theo chỉ đạo của Chính phủ, song trên thực tế, đường nhập lậu và đường không rõ nguồn gốc vẫn được rao bán công khai trên mạng xã hội cũng như tại nhiều chợ đầu mối. Hệ quả là ngay cả khi giá đường sản xuất từ mía đã hạ thấp hơn đường nhập lậu thì vẫn rất khó tiêu thụ trên thị trường.
Tình trạng sang chiết, đóng gói đường theo hình thức "3 không" gồm không nhãn mác, không nguồn gốc xuất xứ và không hạn sử dụng vẫn diễn ra phổ biến. Phần lớn hoạt động mua bán tại các cửa hàng dân sinh sử dụng tiền mặt và không có hóa đơn, gây khó khăn cho công tác quản lý".
Bên cạnh sức ép từ đường nhập lậu, ngành mía đường còn phải cạnh tranh với đường lỏng sirô ngô (HFCS). Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), trong tháng 6 Việt Nam nhập khẩu khoảng 22.215 tấn HFCS; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 111.839 tấn, tương đương cùng kỳ năm trước.
Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam, lượng HFCS này chủ yếu được nhập khẩu bởi các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát, đây là nhóm khách hàng trước đây tiêu thụ lượng lớn đường tinh luyện trong nước. Việc HFCS tiếp tục được sử dụng rộng rãi khiến thị trường đường công nghiệp ngày càng bị thu hẹp, làm giảm thêm đầu ra của đường sản xuất từ mía.
Đánh giá triển vọng thị trường, Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho rằng trong tháng 7 và dự báo sang tháng 8/2026, nguồn cung đường vẫn tiếp tục dồi dào do lượng đường sản xuất trong nước, đường nhập khẩu từ ASEAN và đường nhập lậu cùng tồn tại trên thị trường. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ đường sản xuất từ mía chưa có dấu hiệu cải thiện. Giá đường dự kiến tiếp tục duy trì ở mức thấp nhất trong ba năm gần đây.
"Thị trường đường công nghiệp của ngành nước giải khát đã bị HFCS chiếm lĩnh, còn thị trường đường tiêu dùng bị đường nhập lậu và đường không rõ nguồn gốc chi phối", Hiệp hội Mía đường Việt Nam nêu thực trạng; đồng thời nhấn mạnh, nếu các cơ quan quản lý không có các biện pháp quyết liệt hơn trong kiểm soát đường nhập lậu, xử lý hành vi kinh doanh không hóa đơn và trốn thuế, đường sản xuất từ mía sẽ rất khó có cơ hội tiêu thụ.
Hiệp hội Mía đường Việt Nam cũng cảnh báo, việc giá đường trong nước duy trì ở mức thấp nhất khu vực khiến giá thu mua mía của nông dân Việt Nam chỉ bằng khoảng 60-70% so với các quốc gia lân cận. Mức giá này không đủ bù đắp chi phí sản xuất, đe dọa trực tiếp thu nhập của người trồng mía và có nguy cơ đẩy toàn bộ chuỗi liên kết mía đường đến ranh giới phá sản nếu tình trạng kéo dài.
Hàng trăm sản phẩm nông sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm OCOP và hàng thủ công mang đậm bản sắc vùng Tây Bắc chính thức được ra mắt tại không gian trưng bày, livestream “Sức sống hàng Việt” tạo thêm động lực để các sản phẩm địa phương vươn xa trên thị trường…
Hơn một nửa số doanh nghiệp châu Âu (54%) được khảo sát, cho biết Việt Nam là thị trường chiến lược trọng điểm và là cơ sở hoạt động chính, trong khi 18% coi đây là địa điểm tăng trưởng quan trọng. Thay vì chỉ đóng vai trò cơ sở sản xuất, Việt Nam ngày càng được xem như nền tảng cho sản xuất, tìm nguồn cung ứng, dịch vụ khu vực và mở rộng tương lai tại Đông Nam Á...
Dự án RECAF được triển khai giai đoạn 2025–2031 với tổng kinh phí 96 triệu USD, nhằm bảo vệ rừng, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp không gây mất rừng tại Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Khánh Hòa. Dự án kỳ vọng góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam về REDD+ và mục tiêu phát thải ròng bằng "0"...
Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ điều chế các chủng loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y học hạt nhân. Khoa học hạt nhân nước ta đã phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Đây là những bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đưa năng lượng nguyên tử vào phục vụ dân sinh.