Lạm phát năm 2025: Tín hiệu tích cực và những cảnh báo

Minh Đức

09/05/2026, 07:00

Sau khi công bố số liệu lạm phát năm 2025, nhiều ý kiến, kể cả từ một số chuyên gia, đã đánh giá đây là một “tin vui kép”, một diễn biến đáng chú ý và đồng thời đặt ra những cảnh báo về xu hướng lạm phát trong thời gian tới. Vậy thực chất diễn biến lạm phát năm 2025 phản ánh điều gì và hàm ý chính sách ra sao?

VnEconomy

Năm 2025, kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, xung đột địa chính trị kéo dài, thiên tai cực đoan gia tăng và chủ nghĩa bảo hộ thương mại trỗi dậy. Giữa những biến động ấy, kinh tế Việt Nam vẫn bứt phá mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng 8,02%, đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra, lạm phát được kiểm soát hiệu quả, với CPI bình quân cả năm tăng 3,31%, thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra và phản ánh sự ổn định vĩ mô.

TIN VUI KÉP VỀ LẠM PHÁT

“Tin vui kép” về lạm phát năm 2025 được nhận diện dưới các góc độ khác nhau.

Thứ nhất, thông qua việc so sánh lạm phát năm 2025 với các con số tương ứng trong nhiều năm trước tính từ năm 2010 đến 2024 (biểu đồ 1).

Trong 16 năm gần đây, mức lạm phát năm 2025 thấp hơn 8 năm, trong đó có năm 2024 là năm liền trước. Xét trong 12 năm gần nhất, lạm phát năm 2025 cũng thấp hơn 4 năm. Mức lạm phát thấp trong năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện.

Lạm phát được kiểm soát cho thấy sự mất giá của đồng tiền Việt Nam ở mức hợp lý, góp phần cải thiện mức sống thực tế của người dân. Đồng thời, môi trường lạm phát thấp và ổn định là yếu tố quan trọng để thu hút các dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FII), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và kiều hối; thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; cũng như thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.

Lạm phát thấp tạo dư địa thuận lợi cho điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, cho phép các nhà hoạch định chính sách cân nhắc nới lỏng chính sách tài khóa (thông qua các biện pháp kích cầu tiêu dùng) và chính sách tiền tệ (thông qua mở rộng tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng…), nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nhu cầu trong nước và thế giới biến động.

Thứ hai, lạm phát thấp không chỉ có ý nghĩa chung đối với người tiêu dùng - chủ thể đông đảo nhất trên thị trường - mà còn đặc biệt có ý nghĩa đối với nhóm thu nhập thấp. So sánh tốc độ tăng giá bình quân năm 2025 với năm 2024 cho thấy, trong 13 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính trong “rổ” tính CPI, có 8 nhóm có tốc độ tăng giá bình quân năm 2025 thấp hơn năm trước. Điều này góp phần giảm áp lực chi phí sinh hoạt đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương trước biến động giá cả.

Cụ thể, trong 13 nhóm hàng hóa và dịch vụ, có 8 nhóm có tốc độ tăng giá bình quân năm 2025 thấp hơn năm 2024, bao gồm: lương thực tăng 0,17% so với mức tăng 12,19% của năm trước; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,61% so với 3,99%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,21% so với 2,42%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,3% so với 1,4%; giao thông giảm 2,14% so với mức tăng 0,76%; giáo dục tăng 2,15% so với 5,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78% so với 6,56%.

Đây đều là những nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà người có thu nhập thấp sử dụng với tỷ trọng lớn, nên mức tăng giá thấp hơn năm trước đã góp phần giảm bớt áp lực chi tiêu và cải thiện tương đối đời sống của nhóm dân cư dễ bị tổn thương này.

Thứ ba, lạm phát năm 2025 thực tế thấp hơn mục tiêu đề ra (3,31% so với 4,5%) và năm 2025 là năm thứ 12 liên tục lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu. Đây cũng là số năm dài nhất trong hơn 40 năm sau Đổi mới, mở cửa hội nhập từ năm 1986.

Thứ tư, trong khi tốc độ tăng GDP năm 2025 đạt 8,02%, vượt mục tiêu đề ra, thì lạm phát cũng thấp hơn mục tiêu đề ra. Đó là “kết quả kép”, cũng là “tin vui kép”, khi tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn mục tiêu thì lạm phát lại thấp hơn mục tiêu mà không phải năm nào cũng đạt được!

Thứ năm, trong khi năm 2025 so với năm 2024, lạm phát cơ bản tăng cao hơn (3,21% so với 2,71%), thì CPI bình quân năm lại tăng thấp hơn (3,31% so với 3,63%). Điều đó chứng tỏ yếu tố chi phí đẩy, yếu tố tiền tệ nới lỏng đối với giá cả hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, đối với lạm phát chưa lớn, đã bị “cản lại” trước khi gây sức ép đối với lạm phát.

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT

Thông tin về lạm phát năm 2025 được xem là “lạ” đến mức khiến không ít người, kể cả một số chuyên gia, đặt câu hỏi: lạm phát đã “chạy đi đâu”? Cái “lạ” của lạm phát năm 2025 thể hiện khi nhìn lại các yếu tố tác động đến lạm phát trong bối cảnh kinh tế vĩ mô, đặc biệt là từ phía tổng cầu sử dụng GDP.

Yếu tố sử dụng GDP

Tích lũy tài sản: là một thành tố quan trọng của tổng cầu sử dụng trong nước và là tiền đề của vốn đầu tư phát triển toàn xã hội - yếu tố thường tạo áp lực tăng giá trong nền kinh tế.

Tốc độ tăng tích lũy tài sản và tốc độ tăng GDP (tính theo giá so sánh) trong một số năm gần đây được thể hiện tại biểu đồ 2.

Trong 7 năm gần đây, có 5 năm tốc độ tăng tích lũy tài sản cao hơn tốc độ tăng GDP. Đáng chú ý, năm 2025 là năm có tốc độ tăng tích lũy tài sản cao nhất trong giai đoạn này, cho thấy động lực đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất vẫn được duy trì mạnh mẽ.

Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 7 năm qua chỉ có 2 năm cao hơn tốc độ tăng GDP, song tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GDP luôn cao hơn tỷ lệ tích lũy tài sản/GDP (Biểu đồ 3). Điều này phản ánh quy mô đầu tư của nền kinh tế duy trì ở mức cao, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng dài hạn, nhưng cũng là yếu tố thường tạo áp lực lên lạm phát từ phía cầu.

Duy trì đầu tư liên tục khó hơn so với tích lũy tài sản, trong khi đầu tư thường là một trong những yếu tố tạo áp lực tăng lạm phát từ phía cầu. Tuy nhiên, thực tế lạm phát năm 2025 lại ở mức thấp hơn kỳ vọng, phản ánh sự tồn tại của những yếu tố kìm hãm giá cả.

Tiêu dùng cuối cùng (tính theo giá thực tế): có tỷ lệ/GDP lớn gấp trên 2 lần tỷ lệ tích lũy tài sản/GDP. Tuy nhiên, từ sau đại dịch Covid-19, tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống do tâm lý “tích cốc phòng cơ”, thậm chí “thắt lưng buộc bụng”, xuất hiện trong đại dịch và còn kéo dài sang các năm sau đó. Nếu tính theo giá so sánh, tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng năm 2025 đạt 7,95%, mức cao nhất so với nhiều năm trước, cho thấy nhu cầu tiêu dùng đã phục hồi mạnh về lượng, dù áp lực tăng giá chưa lớn.

Tốc độ tăng giá bình quân năm của một số nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng năm 2025 thấp hơn tốc độ tăng tương ứng của năm trước, như: ăn uống ngoài gia đình (tăng 3,61% so với 2,70%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (6,08% so với 5,30%); thiết bị và đồ dùng gia đình (1,66% so với 1,27%); thuốc và dịch vụ y tế (13,07% so với 7,16%);…

Sự “lạ” của lạm phát năm 2025, xét từ phía sử dụng GDP, có thể lý giải thông qua một số trạng thái đáng lưu ý diễn ra trong thời gian qua. Tính theo giá thực tế, tỷ trọng sử dụng GDP trong nước (bao gồm tích lũy tài sản và tiêu dùng cuối cùng) trong năm qua ở mức thấp và ước tính năm 2025 vẫn thấp hơn GDP sản xuất tính theo giá thực tế (Biểu đồ 4). Điều này hàm ý một phần sản lượng được dành cho xuất khẩu hoặc tích lũy dưới dạng hàng tồn kho, qua đó làm giảm áp lực lạm phát từ phía cầu trong nước.

Theo đó, tỷ trọng tích lũy tài sản, tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng và tỷ trọng tổng sử dụng GDP trong nước có xu hướng giảm qua các năm; tổng sử dụng GDP trong nước thậm chí thấp hơn GDP sản xuất. Điều này cho thấy tổng cầu nội địa còn yếu, trong khi tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào khu vực đối ngoại...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Kinh tế Việt Nam & Thế giới 2025 - 2026 phát hành ngày 19/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/kinh-te-viet-nam-va-the-gioi-2025-2026.html

VnEconomy

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon

Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon

30 nền kinh tế nhập khẩu nhiều nhất thế giới, Việt Nam cũng có mặt

30 nền kinh tế nhập khẩu nhiều nhất thế giới, Việt Nam cũng có mặt

Các quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới năm 2026

Các quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới năm 2026

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy