Vượt qua những thách thức khó khăn từ tình hình bất định của kinh tế thế giới, năm 2025, kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng 8,02% và vươn lên vị trí thứ 33 nền kinh tế lớn trên thế giới.
Tuy vậy, chia sẻ tại Hội thảo Quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng 2026: Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” và công bố Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 diễn ra sáng ngày 24/4, GS.TS Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng tăng trưởng của năm 2025 vẫn dựa chủ yếu vào gia tăng quy mô vốn tín dụng (tăng trưởng tín dụng hơn 19%, mức cao nhất trong một thập kỷ) và đầu tư từ khu vực Nhà nước (chiếm gần 30% tổng đầu tư xã hội và tăng gần 20%).
Đáng lo ngại hơn, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong nước – động lực thiết yếu cho sự phát triển dài hạn – lại đang có xu hướng suy giảm. Cùng với đó, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đã chuyển sang mức âm, phản ánh hiệu quả quản trị, công nghệ và phân bổ nguồn lực đang bị thu hẹp.
Trong bối cảnh nền kinh tế năm 2026 được dự báo sẽ đối mặt với nhiều rủi ro từ những ảnh hưởng xung đột địa chính trị diễn biến phức tạp trên thế giới, để đạt mục tiêu tăng trưởng, theo GS.TS Tô Trung Thành, dư địa không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô đầu tư hay kích thích tổng cầu, mà cốt lõi nằm ở cải cách thể chế, nâng cao chất lượng điều hành, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch và ổn định hơn. “Bản chất là quá trình tái cấu trúc nền kinh tế dựa trên chuyển đổi số”, ông Thành nhấn mạnh.
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng năm 2026 phải là năm bản lề để Việt Nam chuyển từ phục hồi sang bứt phá, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Số liệu cho thấy, năm 2025, kinh tế số ước đạt 72,1 tỷ USD, chiếm hơn 14% GDP. Mặc dù xuất khẩu sản phẩm công nghệ số đạt khoảng 172 tỷ USD, nhưng mức độ lan tỏa của nền kinh tế số vẫn chưa tương xứng. Tỷ trọng FDI vào công nghệ cao mới chỉ chiếm khoảng 5% tổng vốn FDI, chủ yếu tập trung ở các khâu gia công lắp ráp mang lại giá trị gia tăng thấp.
Song vấn đề hiện nay không chỉ là nhận diện và phá vỡ các điểm nghẽn như rào cản về thể chế đối với dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), mô hình kinh doanh số mới; điểm nghẽn về hạ tầng số, trung tâm dữ liệu… mà còn đòi hỏi một tư duy quản trị hoàn toàn mới.
GS. Nguyễn Thành Hiếu, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng việc hoàn thiện thể chế cho kinh tế số phải đi đôi với xây dựng cơ chế điều phối chính sách đồng bộ, tránh tình trạng phân tán.
“Chuyển đổi số muốn đi vào chiều sâu thì phải được đặt trong một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, từ chính sách đến thực thi, từ khu vực công đến khu vực tư”, GS. Hiếu nhấn mạnh.
Cụ thể, theo GS Hiếu, kinh tế số hiện nay không chỉ dừng lại ở việc số hóa nền kinh tế thông thường, mà là quá trình phát triển mô hình kinh tế dựa trên dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo.
Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được cơ hội từ việc áp dụng mô hình này nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu để đổi mới kế hoạch sản xuất kinh doanh. Vai trò của dữ liệu đã được quan tâm nhưng việc chuyển hóa chúng thành giá trị gia tăng thực tế còn rất hạn chế. Do đó, vấn đề cấp thiết nhất đối với cộng đồng doanh nghiệp là phải chuyển từ nhận thức sang hành động mạnh mẽ hơn.
Để làm được điều này, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy đầu tư: không chỉ nhìn chuyển đổi số như một khoản chi phí công nghệ, mà phải ưu tiên đầu tư cho con người, cho việc xây dựng và khai thác dữ liệu, cho hệ thống quản trị và cho việc liên kết với các đối tác trong hệ sinh thái.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ không gian số sang môi trường vật lý. Thay vì chỉ giới hạn trong việc xử lý dữ liệu, hình ảnh hay ngôn ngữ trên không gian mạng, AI giờ đây đang được “hiện thân” vào các robot, thiết bị tự hành và các dây chuyền sản xuất thông minh...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việc tổn thất 1,14% GDP mỗi năm từ thuốc lá đang trực tiếp cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời kéo lùi các nỗ lực phát triển con người…
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ đổi mới mạnh mẽ về thể chế, khoa học, công nghệ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn phải huy động được sức mạnh của toàn xã hội.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.