Một trong những nguyên nhân quan trọng, nhưng thường bị xem nhẹ, chính là hạ tầng và dịch vụ logistics. Bởi, trong chuỗi giá trị nông sản, logistics không chỉ là khâu vận chuyển, mà là hệ thống bao gồm lưu kho, bảo quản lạnh, phân loại, đóng gói, trung chuyển và kết nối thị trường.
Khi logistics yếu, lợi thế sản xuất bị bào mòn, chi phí đội lên và rủi ro gia tăng, đặc biệt với một vùng không có cảng biển như Tây Nguyên.
Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, chi phí logistics của nông sản Việt Nam hiện chiếm khoảng 20 - 25% tổng chi phí, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 10 - 15% của nhiều nền kinh tế trong khu vực. Riêng với Tây Nguyên, tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở một số mặt hàng do đặc thù địa lý và kết cấu hạ tầng.
Tây Nguyên không có cảng biển, không có đường sắt kết nối trực tiếp ra cảng, trong khi mạng lưới trung tâm logistics nội vùng gần như chưa hình thành. Phần lớn nông sản sau thu hoạch phải vận chuyển bằng đường bộ ra các cảng ở duyên hải Nam Trung Bộ hoặc TP.Hồ Chí Minh. Quãng đường vận chuyển dài, cộng với việc phải qua nhiều khâu trung gian, khiến chi phí logistics bị “đội” lên ngay từ đầu chuỗi.
Không chỉ chi phí vận chuyển, khâu bảo quản sau thu hoạch cũng là điểm yếu lớn. Hệ thống kho lạnh, kho bảo quản đạt chuẩn xuất khẩu ở Tây Nguyên còn thiếu và phân tán, chủ yếu phục vụ quy mô nhỏ. Điều này khiến nhiều mặt hàng trái cây, nông sản tươi khó kéo dài thời gian bảo quản, buộc phải bán nhanh hoặc chấp nhận giá thấp. Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch ở một số loại nông sản được ghi nhận ở mức cao, làm giảm trực tiếp thu nhập của người sản xuất.
Ông Đào Trọng Khoa - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) - từng nhận định rằng logistics nông sản của Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng đang chịu “bất lợi kép”: vừa thiếu hạ tầng logistics hiện đại, vừa thiếu doanh nghiệp logistics quy mô đủ lớn để tổ chức chuỗi dịch vụ trọn gói. Theo ông Khoa, khi logistics không được tổ chức bài bản, lợi nhuận bị phân tán dọc chuỗi, nhưng phần chịu thiệt nhiều nhất vẫn là người sản xuất và doanh nghiệp ở vùng nguyên liệu.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Trần Thanh Hải - Cục phó Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương, cũng nhiều lần nhấn mạnh, chi phí logistics cao đang là rào cản lớn đối với năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Trên cơ sở đó, với các vùng sản xuất lớn như Tây Nguyên, nếu không sớm hình thành các trung tâm logistics gắn với vùng nguyên liệu, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ gặp nhiều giới hạn, nhất là với những thị trường yêu cầu cao về thời gian giao hàng và chất lượng bảo quản.
Những năm gần đây, việc đầu tư các tuyến cao tốc kết nối Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt về giao thông. Các tuyến như Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, Qui Nhơn - Pleiku hay Gia Nghĩa - Chơn Thành được xem là “đường mở”, giúp rút ngắn thời gian di chuyển và giảm áp lực cho quốc lộ.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng cao tốc chỉ giải quyết được bài toán “đi lại”, chứ chưa giải quyết được bài toán logistics. Đường tốt hơn giúp xe chạy nhanh hơn, nhưng nếu không có kho lạnh, trung tâm phân phối, điểm trung chuyển hàng hóa và dịch vụ logistics chuyên nghiệp, thì chi phí toàn chuỗi vẫn khó giảm mạnh.
Đầu tư hạ tầng ở Việt Nam vẫn còn nặng về tư duy “xây đường là đủ”. Trong khi đó, logistics là một hệ sinh thái dịch vụ, trong đó hạ tầng cứng chỉ là điều kiện cần. Nếu thiếu quy hoạch logistics vùng, thiếu cơ chế thu hút doanh nghiệp logistics lớn, thì cao tốc có thể trở thành tuyến đường vận chuyển đơn thuần, chứ chưa phải đòn bẩy nâng cấp chuỗi giá trị.
“Thực tế cho thấy logistics không chỉ là vận tải mà còn là hạ tầng dịch vụ, quyết định khả năng tiếp cận thị trường”, PGS.TS. Trần Minh Hoàng - Phó giám đốc Trung tâm Logistics Quốc gia, đã khẳng định như vậy tại hội thảo “Phát triển Logistics bền vững 2025” tổ chức ở Hà Nội ngày 15/9/2025.
Ở góc độ thị trường, Tây Nguyên đang đứng trước cơ hội, nhưng cũng đối mặt nhiều rủi ro. Khi giao thông được cải thiện, dòng hàng hóa sẽ lưu chuyển nhanh hơn, nhưng nếu không có trung tâm logistics nội vùng, giá trị gia tăng vẫn có xu hướng “chảy” về các đô thị lớn và khu vực có hạ tầng dịch vụ tốt hơn. Điều này khiến vùng non ngàn này tiếp tục giữ vai trò vùng cung cấp nguyên liệu thô, thay vì trở thành mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi nông sản xuất khẩu.
Một vấn đề khác là quy hoạch logistics vùng Tây Nguyên hiện vẫn thiếu tính liên kết. Các địa phương chủ yếu tập trung vào hạ tầng giao thông và khu công nghiệp, trong khi logistics - vốn là hạ tầng dịch vụ nền, là “phần cứng” hệ trọng của nền kinh tế - chưa được đặt ở vị trí tương xứng. Việc thiếu các trung tâm logistics cấp vùng hoặc liên vùng khiến doanh nghiệp logistics khó hình thành quy mô đủ lớn, còn doanh nghiệp sản xuất thì thiếu điểm tựa để tối ưu chi phí.
Trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến cho rằng Tây Nguyên cần một cách tiếp cận mới: Coi logistics là hạ tầng kinh tế nền, gắn trực tiếp với tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cấp chuỗi giá trị. Điều này đòi hỏi không chỉ vốn đầu tư cho kho bãi, trung tâm phân phối, mà còn cả cơ chế chính sách để thu hút doanh nghiệp logistics, kết nối dữ liệu chuỗi cung ứng và đồng bộ quy hoạch giữa các địa phương trong vùng.
Ông Nguyễn Anh Phong - Phó giám đốc Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn (IPSARD), trong một hội nghị bàn tròn về chuỗi logistics nông, lâm, thủy sản xuất khẩu tại TP.Hồ Chí Minh, đã đúc kết: “Xu hướng sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và đa dạng sản phẩm đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics tăng mạnh. Tuy nhiên, hạ tầng logistics phát triển chưa theo kịp đòi hỏi thực tiễn, hạn chế khả năng kết nối giữa các khâu trong chuỗi giá trị nông sản”.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026, nền kinh tế phải tăng khoảng 11,9% trong nửa cuối năm, tuy nhiên, đây không chỉ là bài toán về tốc độ tăng trưởng mà còn là yêu cầu đồng thời kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng...
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động và Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai các quyết sách mới về phát triển kinh tế, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp cùng tìm lời giải để thu hẹp khoảng cách từ chủ trương đến thực thi, tạo động lực cho tăng trưởng...
Cục Hàng không Việt Nam vừa báo cáo Bộ Xây dựng và Ban Chỉ đạo công tác chuẩn bị khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành về phương án tổ chức khai thác giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, trong đó đề xuất chính thức đưa Long Thành vào khai thác từ ngày 1/12/2026 và thực hiện lộ trình chuyển đổi hoạt động theo ba giai đoạn...
Ngành hàng không Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026 khi sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa đều tăng so với cùng kỳ năm trước...
Trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra "cửa sổ cơ hội" để Việt Nam bứt phá. Tuy nhiên, để chuyển hóa cơ hội thành động lực tăng trưởng mới, cần kết nối nguồn lực trong và ngoài nước, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và đưa công nghệ nhanh chóng vào thực tiễn...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Trước khi trở thành 1 trong 30 nhà nông trẻ xuất sắc được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2025, anh Lê Minh Cương đã trải qua không ít thất bại, thậm chí có thời điểm đứng trước nguy cơ phá sản. Từ một du học sinh ngành du lịch, anh đã lựa chọn trở về quê hương Thanh Hóa để khởi nghiệp với mong muốn tạo ra những sản phẩm sạch từ chính nông sản địa phương.