Tính từ đầu năm đến nay, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã có 5 lần giữ nguyên lãi suất ở mức 4,5% và 2 lần giảm 25 điểm cơ bản vào cuộc họp 17/09/2025 và 29/10/2025. Nếu xét từ 2022, FED đã tăng lãi suất 11 lần và lãi suất hiện đang ở ngưỡng cao trong vòng 20 năm trở lại đây.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 của Mỹ được công bố tăng 0,3% so với tháng 8/2025, lạm phát tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, cách xa so với mục tiêu 2% cho năm 2025 của FED. Điều này tạo áp lực khiến FED có thể phải duy trì mức lãi suất cao và làm chậm quyết định giảm lãi suất.
Đồng thời, tạo áp lực khiến Chỉ số US Dollar Index (DXY) - đo lường biến động của đồng đô la Mỹ so với 6 đồng tiền chủ chốt, neo quanh vùng cao. Hiện chỉ số US Dollar Index (DXY) đang duy trì quanh ngưỡng 100 điểm.
Chênh lệch giữa chính sách giảm lãi suất của Việt Nam, và duy trì lãi suất cao của FED đã tạo ra một khoảng cách nhất định, khiến tỷ giá gia tăng. Dù hiện tại, lãi suất trong nước có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung Ngân hàng Nhà Nước vẫn giữ mục tiêu chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Trong báo cáo cập nhật tỷ giá, Chứng khoán Mirae Asset nhận định điều này có thể sẽ gặp khó khăn trong thời gian tới trước áp lực tỷ giá. Tuy nhiên, kỳ vọng FED sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong năm nay cũng như 2026, giúp thu hẹp chênh lệch lãi suất của Việt Nam và Mỹ tạo dư địa cho chính sách tiền tệ nới lỏng trong nước, nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà vẫn duy trì ổn định tỷ giá.
Tính từ 02/01/2025 đến 14/11/2025, tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước đối với USD/VND tăng 3,2% và cao hơn 1,4% so với mức tăng 1,8% vào cùng thời điểm trong năm 2024. Đáng chú ý, điều này có thể tác động khiến hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp vay USD, xuất nhập khẩu có thể ảnh hưởng, phần nào đã phản ánh vào doanh thu, chi phí tài chính trong ba quý đầu năm và sẽ tiếp tục thể hiện trong kết quả quý 4.
Với nhóm Doanh nghiệp vay nợ bằng USD, Mirae Asset đánh giá các công ty có nợ vay bằng USD cao sẽ bị ảnh hưởng khi USD tăng giá dẫn đến lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái. Điều này kéo theo sự thay đổi làm sụt giảm lợi nhuận của doanh nghiệp vay USD.
Tuy nhiên, tùy vào hoạt động nội tại của doanh nghiệp sau khi cân chỉnh giữa tài sản và nợ bằng ngoại tệ hoặc có doanh thu từ USD, cũng như sự khác biệt về thời điểm phát sinh và thực tế ghi nhận, có thể hưởng lợi từ chênh lệch tỷ giá đồng ngoại tệ khác, từ đó đối ứng nhằm cân bằng khoản lỗ chênh lệch tỷ giá.
Những doanh nghiệp lợi nhuận trước thuế 2024 âm, sẽ không ước tính tác động làm giảm lợi nhuận. Với những số liệu nợ vay trên Báo cáo tài chính chưa quy đổi sang VND, ước tính sử dụng tỷ giá trung tâm tại ngày 31/12/2024 là 24.335 VND/USD để quy đổi.
Những doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu sẽ hưởng lợi từ chênh lệch tỷ giá khi USD/VND tăng. Các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm: hàng dệt may, thủy sản, giày dép, điện tử, nông sản, cao su và gỗ.
Ngành dệt may (MSH, TCM, TNG, STK…) nhìn chung dưới áp lực của tỷ giá sẽ nhận tác động 2 chiều, bởi phần lớn nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sau đó gia công xuất khẩu. Vì vậy, biến động tỷ giá sẽ ít làm thay đổi kết quả kinh doanh.
Ngành thủy sản (VHC, MPC, IDI, …) hưởng lợi khi doanh nghiệp thủy sản phần lớn doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu, đồng thời chi phí nội địa và nợ vay bằng USD không lớn.
Ngành cao su, xăm lốp (DRC, CSM, …) thường nợ vay bằng USD không đáng kể và là những doanh nghiệp cao su xuất khẩu ròng, do đó hưởng lợi khi tỷ giá USD/VND tăng.
Ngành thực phẩm (VNM) chủ yếu doanh thu nội địa, tỉ lệ doanh thu USD không lớn nên độ nhạy cảm với tỷ giá thấp. Có thể hưởng lợi nhẹ nếu có xuất khẩu hoặc nguồn ngoại tệ, nhưng rủi ro chính đến từ chi phí nguyên liệu nhập khẩu (nếu tỷ giá biến động mạnh).
Thép (NKG, HPG…) nhận tác động 2 chiều. NKG và HPG có giá trị xuất khẩu lớn chiếm lần lượt 65% và 31% trên tổng doanh thu nhưng cũng vay USD nhiều vì vậy mức hưởng lợi còn phụ thuộc cấu trúc tài chính từng doanh nghiệp.
Gỗ (PTB, ACG…) doanh thu xuất khẩu cao, chi phí nội địa, nợ vay ngoại tệ thấp là nhóm hưởng lợi khá rõ khi USD tăng.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu bằng USD sẽ gặp khó khăn khi USD tăng giá, đồng thời giá cả của các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam tăng làm giảm nhu cầu của người tiêu dùng từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp nhập khẩu.
Định giá P/E dự phóng năm 2026 ở mức 11,7x nhưng nhiều ngành đang được giao dịch ở mức thấp hơn đáng kể. Đây cũng là vùng thấp nhất về định giá, tương đương các đợt sụt giảm mạnh từng xuất hiện vào các năm 2020, 2022 và 2025...
Thêm một nhịp “dúi” chỉ số nữa xuất hiện sáng nay, thậm chí VNI có lúc xuống dưới đáy tháng 6/2026. Thanh khoản thấp ở nhịp giảm là một tín hiệu tốt, cho thấy đợt bán dữ dội nhất đã vãn.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) vừa quyết định đưa cổ phiếu HVN của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) ra khỏi diện hạn chế giao dịch kể từ ngày 14/7, sau khi hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực...
Định giá vẫn ở mức hỗ trợ, với P/E dự phóng năm 2026 ở mức trên 10 lần, cho thấy các cơ hội chọn lọc vẫn còn hiện hữu...
Thị trường thay đổi hoàn toàn trong phiên chiều nay khi bên mua bất ngờ nâng giá tích cực. Áp lực bán suy yếu đáng kể khiến thanh khoản rất nhỏ cũng khiến giá đảo chiều tăng hàng loạt. VN-Index đóng cửa leo lên mức 1806,63 điểm.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.