Theo thống kê của FiinGroup, lợi nhuận sau thuế ngành ngân hàng tăng 17,8% so với cùng kỳ và tăng 7,8% so với quý trước đó trong Q2/2025, tiếp tục xu hướng tăng trưởng chậm và thấp hơn đáng kể so với toàn thị trường.
Trong bối cảnh NIM duy trì ở vùng đáy khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng nhẹ 8,3%, tăng trưởng lợi nhuận của ngành được hỗ trợ chủ yếu từ thu nhập ngoài lãi với +19,7%, góp phần bù đắp mức tăng mạnh về chi phí dự phòng đang ở mức cao nhất trong hơn 3 năm.
Cụ thể, thu nhập ngoài lãi có đóng góp lớn từ hoạt động thu hồi nợ xấu (ghi nhận ở ACB, ABB, VPB, BID) – yếu tố có thể diễn ra ở các ngân hàng khác trong thời gian tới sau khi một số quy định trong Nghị quyết 42 đã được luật hóa, giúp thúc đẩy quá trình xử lý tài sản đảm bảo.
Chất lượng tài sản có tín hiệu cải thiện trong quý 2. Cụ thể, tỷ lệ tạo mới nợ xấu ở mức rất thấp (0,01%) và nợ tiềm ẩn rủi ro cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhiều quý. Tỷ lệ nợ cần chú ý giảm còn 1,2% và nợ xấu cũng hạ nhẹ về 2,0%.
Sự cải thiện này phần nào nhờ vào quá trình thu hồi nợ xấu cả nội và ngoại bảng được đẩy mạnh, sau khi một số quy định trong Nghị quyết 42 đã được luật hóa cũng như nỗ lực tái cơ cấu nội bộ tại nhiều ngân hàng.
Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục ở mức thấp trong quý 2 (80,3%), tương phản với giai đoạn quý 1/2022 khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên tới 149,2% dù tỷ lệ nợ xấu chỉ ở mức 1,4%. Hiện tại, dù nợ xấu ở mức 2,0%, nhưng trích lập dự phòng không theo kịp, cho thấy khả năng chống chịu rủi ro tín dụng khá thấp.
Nhận định về triển vọng cổ phiếu ngân hàng thời gian tới, FiinGroup cho rằng các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ có tiềm năng đẩy mạnh tín dụng, đặc biệt ở phân khúc doanh nghiệp – vốn đang phục hồi sau giai đoạn siết chặt; còn dư địa ghi nhận lợi nhuận đột biến là thu nhập từ việc thu hồi/xử lý nợ xấu với tài sản đảm bảo chủ yếu là bất động sản; chiến lược trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thận trọng đi cùng với xu hướng kiểm soát tốt chi phí tín dụng trong các quý gần đây.
Một số ngân hàng thuộc nhóm có tăng trưởng lợi nhuận sau thuế trong Q2/2025 và phù hợp với tiêu điểm này bao gồm ACB và VIB.
Trong khi đó, với nhóm ghi nhận lợi nhuận Q2/2025 suy giảm so với quý liền trước, MBB là trường hợp đáng chú ý. Dù kết quả ngắn hạn kém tích cực, triển vọng trung hạn vẫn tích cực với: tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng tích cực; NIM ổn định trở lại nhờ chi phí vốn giảm khi tỷ trọng CASA hồi phục và các khoản nợ xấu đã được xử lý; và áp lực trích lập giảm dần khi chất lượng tài sản có dấu hiệu cải thiện rõ nét, đồng pha với diễn biến hồi phục của thị trường bất động sản.
Năm 2025 có thể là cao điểm tăng vốn cổ phần của ngành Ngân hàng, với tổng giá trị dự kiến lên tới 33 nghìn tỷ đồng – vượt các năm trước. Mục tiêu chính là củng cố bộ đệm vốn, đáp ứng các yêu cầu an toàn (CAR, LDR, hệ số vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn), trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, LDR toàn ngành đã vượt 108%.
Các ngân hàng quốc doanh như VCB, BID chiếm phần lớn quy mô tăng vốn, trong khi nhóm ngân hàng tư nhân như TCB, MBB, NVB, VAB, BVB cũng tích cực lên kế hoạch phát hành cổ phiếu hoặc IPO công ty con.
Về đầu tư, những ngân hàng có chiến lược tăng vốn rõ ràng, kiểm soát ROE tốt sau tăng vốn và tận dụng được cơ hội IPO công ty con sẽ có tiềm năng được định giá lại. Đây là nhóm cổ phiếu đáng chú ý trong bối cảnh dòng tiền thị trường đang hướng đến nhóm có nền tảng cơ bản vững chắc.
Các cổ phiếu có P/B thấp hơn mặt bằng chung (P/B toàn ngành hiện khoảng 1,8x), ROE cao và có triển vọng cải thiện nội tại như VIB, ACB, MBB có thể tiếp tục thu hút sự quan tâm.
Ngoài ra, nhóm ngân hàng có nền tảng hiện tại còn yếu nhưng đang đẩy mạnh “làm sạch” bảng cân đối kế toán và củng cố vốn như OCB, BVB cũng đáng chú ý cho mục tiêu trung hạn; những nỗ lực này được kỳ vọng sẽ cải thiện định giá khi chất lượng tài sản và khả năng sinh lời dần ổn định hơn.
10 cổ phiếu này thuộc các nhóm ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông, thực phẩm - đồ uống, bán lẻ, xăng dầu, dầu khí và bất động sản.
Lực bán từ từ gia tăng trong phiên chiều nay tiếp tục xác nhận nhu cầu cắt lỗ sẽ phụ thuộc vào diễn biến cổ phiếu cụ thể chứ không phải VNI. Dù điểm số có thể vẫn được neo giữ bằng trụ nhưng danh mục sẽ dẫn tới các phản ứng riêng.
VNPRIVGRO bao gồm 30 cổ phiếu thành phần được lựa chọn từ rổ chỉ số VNAllshare, đáp ứng các tiêu chí sàng lọc về thanh khoản và tỷ lệ sở hữu nhà nước, với tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước không vượt quá 15%.
Đà giảm chiều nay không nhanh, cũng không mạnh, mà giống như từ từ trượt dần và không có bất kỳ nỗ lực cản đỡ nào. VN-Index đóng cửa chỉ giảm nhẹ 0,51% nhưng gần trăm cổ phiếu vẫn lỗ hơn 1% giá trị.
Thị trường không còn ở trạng thái định giá cao như những giai đoạn trước, trong khi kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng. Nếu dòng tiền trở lại, các cổ phiếu chiết khấu mạnh sẽ giao dịch tích cực hơn...
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, khả năng Việt Nam trở lại với trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.