KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẠT NHIỀU THÀNH TỰU QUAN TRỌNG
Trong nhiệm kỳ qua, Nghệ An đã đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 8,3 – 8,5%/năm, cao hơn giai đoạn 2016 – 2020; quy mô GRDP gấp 1,7 lần, GRDP bình quân đầu người gấp 1,67 lần so với năm 2020. Năng suất lao động tăng bình quân 8,2%/năm; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 40%.
Thu ngân sách nhà nước tăng gấp 1,7 lần, chi đầu tư phát triển tăng 1,43 lần so với nhiệm kỳ trước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng cao hơn 1,7 lần. Các ngành kinh tế tiếp tục phát triển: công nghiệp – xây dựng tăng trưởng bình quân 11,85%/năm; dịch vụ duy trì tốc độ 7,7%/năm; nông nghiệp ổn định với mức 4,55%/năm.
Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả rõ nét, hạ tầng, môi trường, cảnh quan và đời sống ở nông thôn được nâng cao. Kinh tế biển phát triển toàn diện, đóng góp gần 28% GRDP toàn tỉnh. Hệ thống hạ tầng trọng điểm được đầu tư đồng bộ; khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bước đầu mang lại kết quả tích cực.
Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, Nghệ An tiếp tục khẳng định vị thế trong giáo dục. Năm 2025, tỉnh xếp thứ nhất cả nước về kết quả thi tốt nghiệp THPT; nhiều học sinh đoạt giải cao tại các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Số trường đạt chuẩn quốc gia vượt kế hoạch; giáo dục đại học, cao đẳng, nghề nghiệp từng bước đổi mới. Văn hóa, thể thao, bảo tồn di sản tiếp tục được quan tâm, đạt nhiều thành tựu mới.
Bên cạnh kết quả đạt được, Nghệ An vẫn còn một số hạn chế. Công tác quán triệt, triển khai nghị quyết ở một số nơi chưa kịp thời, hiệu quả; phát triển đảng viên và xây dựng tổ chức chính trị ở vùng đặc thù gặp nhiều khó khăn. Kiểm tra, giám sát có nội dung chưa toàn diện, cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu, chuyển đổi số trong quản lý còn chậm.
Kinh tế chưa có đột phá lớn; GRDP bình quân đầu người còn thấp so với cả nước; nông nghiệp công nghệ cao chưa được nhân rộng, du lịch và kinh tế biển chưa phát triển tương xứng tiềm năng. Doanh nghiệp quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế; ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo còn yếu; quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có mặt chưa hiệu quả.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo một số lĩnh vực chưa quyết liệt, sự phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu đồng bộ, việc xử lý trách nhiệm chưa kịp thời; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu năng động, sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, hội nhập chưa được phát huy mạnh mẽ.
MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2030
Nhiệm kỳ 2025 – 2030, Nghệ An xác định quan điểm đổi mới tư duy phát triển, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực; đổi mới thể chế, quản trị làm đòn bẩy; lấy văn hóa, con người Nghệ An làm nền tảng. Tỉnh sẽ chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế biển, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao.
Mục tiêu đến năm 2030, Nghệ An trở thành tỉnh khá của cả nước, cực tăng trưởng tầm quốc gia, trung tâm của Bắc Trung Bộ về công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, logistics, thương mại, du lịch. Đời sống Nhân dân không ngừng nâng cao; hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu; quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới, biển đảo vững chắc.
Tầm nhìn đến năm 2045, Nghệ An trở thành tỉnh có thu nhập cao, phát triển toàn diện, văn minh, hiện đại.
Đại hội xác định 3 đột phá chiến lược. Thứ nhất, về thể chế: xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư, khơi thông nguồn lực. Thứ hai, về nguồn nhân lực: phát triển nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy giáo dục – đào tạo hiện đại, hội nhập, trọng dụng nhân tài. Thứ ba, về kết cấu hạ tầng: phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng số, logistics, năng lượng, thủy lợi, hạ tầng đô thị hiện đại, công trình phòng chống thiên tai và nhà ở xã hội.
Cùng với đó, tỉnh sẽ tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển bền vững công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ – kinh tế biển; thúc đẩy chuyển đổi số, quản lý hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đời sống Nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế toàn diện.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.
Việt Nam và Canada chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược, xác lập 8 trụ cột hợp tác từ kinh tế, thương mại, công nghệ, năng lượng đến quốc phòng, giáo dục và giao lưu nhân dân, đồng thời nhất trí xây dựng Kế hoạch hành động để triển khai các mục tiêu mới.
Việt Nam và Canada cần sớm cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược bằng chương trình hành động với các ưu tiên, đầu mối thực hiện và lộ trình rõ ràng; khai thác hiệu quả CPTPP, thúc đẩy thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi cung ứng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đưa hợp tác nghị viện trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Canada, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Canada mở rộng hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học - công nghệ, năng lượng, hạ tầng và chuỗi cung ứng, tạo thêm những động lực tăng trưởng mới cho quan hệ song phương.
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chỉ khoảng 105.000 đồng mỗi hộp, những sản phẩm An Cung giả được đưa qua nhiều tầng trung gian rồi bán đến tay người tiêu dùng với giá gần 3 triệu đồng. Đáng chú ý, các đối tượng sử dụng viên hoàn và nguyên liệu không rõ nguồn gốc để đóng gói, dán nhãn thành sản phẩm hàng ngoại.