Theo dự thảo tờ trình của
Bộ Tài chính, sau gần 5 năm triển khai Quyết định 22/2021/QĐ-TTg, một số tiêu
chí phân loại doanh nghiệp nhà nước cùng doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện
cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp cần được rà soát, điều chỉnh để phù hợp
hơn với thực tiễn. Quyết định này ban đầu đặt ra cơ sở
phân loại doanh nghiệp nhà nước đến
hết năm 2025, nên sang giai đoạn 2026-2030, việc sửa đổi là cần thiết để nâng
cao hiệu quả và đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý vốn
Bộ Tài chính cho biết trong quá trình cổ phần hóa, một số bộ
ngành và địa phương kiến nghị Nhà nước tiếp tục nắm giữ vốn tại những doanh
nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Nguyên nhân là những doanh nghiệp
này phục vụ các địa bàn khó khăn, nơi khó thu hút nhà đầu tư, và việc duy trì vốn
nhà nước giúp đảm bảo chất lượng dịch vụ.
Ngược lại, việc Nhà
nước vẫn chi phối phần lớn cổ phần tại những doanh nghiệp hiệu quả lại làm giảm
sức hấp dẫn với nhà đầu tư do khó tham gia quản trị. Vì vậy, cần tiếp tục thúc
đẩy thoái vốn tại những doanh nghiệp không cần Nhà nước nắm giữ.
Căn cứ vào các nội dung trên, Dự thảo sửa đổi
đưa ra những điều chỉnh rõ ràng về các tiêu
chí phân loại theo ngành, lĩnh vực đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu, sắp xếp lại, thoái vốn tại
phụ lục kèm theo.
Cụ thể, đối với các với nhóm doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ, một số ngành,
lĩnh vực giữ nguyên, nhưng có một số điều chỉnh đáng chú ý:
Thứ nhất, Ngành sản xuất hóa chất cơ bản được
nâng từ nhóm Nhà nước nắm giữ 50-65% lên 100% vốn điều lệ do đây là lĩnh vực
then chốt, thiết yếu.
Thứ hai, Ngành sản xuất vàng miếng bị loại
bỏ khỏi danh mục để phù
hợp với Nghị định 232/2025/NĐ-CP do Nhà nước không còn cơ chế độc quyền sản xuất vàng miếng.
Bên cạnh tín
dụng chính sách; bảo hiểm tiền gửi và mua
bán, xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, lĩnh vực mua, bán nợ; tổ chức thị trường giao dịch chứng
khoán; cung cấp dịch vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; đầu
tư và quản lý vốn đầu tư nhằm thúc đẩy tiến trình sắp xếp đổi
mới doanh nghiệp nhà nước cũng được bổ sung để bao quát hoạt động của
SCIC, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng
khoán Việt Nam và Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam.
Việc Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn tại các đơn vị này nhằm
bảo đảm quản lý, giám sát, ổn định thị trường, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ
công ích, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và hỗ trợ phát triển thị trường chứng
khoán.
(Phụ lục kèm theo dự thảo Quyết định thay thế Quyết định số 22/2021/QĐ-TTg)
Đối với nhóm doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều
lệ trở lên, tiêu chí cơ bản hầu như không thay đổi. Tuy nhiên, ngành khai thác,
sản xuất và cung cấp nước sạch và thoát nước đô thị, nông thôn
được nâng tỷ lệ Nhà nước nắm giữ
lên trên mức 65% nhằm bảo đảm an sinh xã hội, an toàn nguồn nước
và sẵn sàng cung
cấp dịch vụ đến vùng sâu, vùng xa
Đồng thời, ngành bán buôn lương thực có vai trò đảm bảo các cân đối lớn của nền
kinh tế hoặc tham gia bình ổn thị
trường và thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng được điều chỉnh tên và
mô tả để phản ánh vai trò cân đối thị trường hoặc tham gia bình ổn giá, đặc biệt
là đối với Tổng công ty Lương thực miền Bắc và miền Nam, vốn chiếm khoảng
27-30% sản lượng xuất khẩu gạo cả nước.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn thực hiện nhiệm
vụ chính trị quan trọng, như xuất khẩu gạo theo chỉ đạo ngoại giao và viện trợ
khi cần thiết, dự thảo tờ trình nêu rõ.
Cuối cùng, tiêu chí đối với
nhóm doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ từ 50% đến dưới 65% vốn điều lệ về cơ bản vẫn giữ nguyên.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp không hoạt động
trong các ngành nêu trên, việc sắp xếp, chuyển đổi sở hữu và thoái vốn sẽ dựa
trên một trong ba tiêu chí: (i)
doanh nghiệp sản xuất xi măng chiếm từ 30% tổng sản lượng của
toàn bộ các doanh nghiệp cùng ngành, trong đó bao gồm khai thác các mỏ nguyên
liệu nằm trên địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng; (ii) doanh nghiệp sản xuất
hoặc cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, mà tỷ trọng doanh thu từ hoạt động
công ích trên tổng doanh thu trong ba năm liên tiếp trước thời điểm xem xét
chuyển đổi đạt từ 50% trở lên và (iii) doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị hoặc phát triển kinh tế-xã hội của
ngành, địa phương.
Những doanh nghiệp
do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:
1. Đo đạc bản đồ
phục vụ quốc phòng, an ninh.
2. Sản xuất, kinh
doanh vật liệu nổ công nghiệp và cung ứng dịch vụ nổ mìn có phạm vi hoạt
động trên toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
3. Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia và quản lý
lưới điện phân phối, xây dựng và vận hành các nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp
luật về điện lực.
4. Quản lý, khai
thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt địa phương thị do
Nhà nước đầu tư; điều hành giao thông vận tải đường sắt quốc gia, đường sắt địa
phương do Nhà nước đầu tư.
5. Dịch vụ không lưu, dịch vụ thông báo tin tức hàng không, dịch vụ tìm kiếm,
cứu nạn.
6. Bảo đảm hàng hải (không bao gồm nạo vét, duy
tu luồng hàng hải công cộng).
7. Bưu chính công
ích và hoạt động duy trì, quản lý mạng bưu chính công cộng.
8. Kinh doanh xổ
số.
9. Xuất bản
(không bao gồm lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm); sản xuất phim khoa học,
thời sự phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền, thông tin đối ngoại và nhiệm vụ an
ninh tư tưởng, văn hóa.
10. In, đúc tiền,
sản xuất các vật phẩm lưu niệm bằng vàng.
11. Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh,
liên huyện.
12. Tín dụng chính sách phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo hiểm tiền
gửi và mua bán, xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng; mua,
xử lý nợ gắn với cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán; cung cấp dịch
vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán tập trung cho thị trường
chứng khoán; đầu tư và quản lý vốn đầu tư nhằm hỗ trợ, thúc đẩy tiến trình cơ cấu
lại, sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
13. Ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho
các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế; tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và
khai thác dầu khí.
14. Sản xuất hóa chất cơ bản.