
Hàng năm, thị trường lao động Việt Nam thường tạo ra từ 1,4 - 1,6 triệu việc làm/năm. Đây là yếu tố làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, trong các bản tin cập nhật thị trường lao động hàng quý, con số này vẫn cho thấy những dấu hiệu khác thường cần rà soát, đánh giá lại .
Với số việc làm hàng năm như vậy, có thể nói thị trường lao động Việt Nam phát triển khá ổn định. Tuy nhiên, trong năm 2018, thị trường cũng bộc lộ một vài điểm cần lưu ý liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp. Thí dụ như việc các em đã tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học nhưng lại có tỷ lệ thất nghiệp cao hoặc thời gian tìm kiếm việc làm dài và phải làm những công việc không tương xứng với trình độ đào tạo...
Vì thế, chúng ta cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm; rà soát, đánh giá lại việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp để giúp thị trường lao động phát triển ổn định hơn.
Lý giải điều này, ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho hay, chính sách bảo hiểm thất nghiệp của ta cơ bản là tốt, nhưng hiện vẫn nặng về giải quyết hậu quả mà nhẹ về tính phòng ngừa. Tức là chúng ta thiếu các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cơ cấu lại lực lượng lao động, bố trí lại lao động để tránh sa thải. Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để có thể tiếp tục sử dụng lao động thay vì cho họ thôi việc, chấm dứt hợp đồng.
"Những vấn đề như lao động trung niên, từ 35-40 tuổi bị sa thải chẳng hạn vẫn chưa có chính sách hỗ trợ, trong khi rất nhiều nước đã có những chính sách như hỗ trợ doanh nghiệp và đóng giúp một phần bảo hiểm xã hội để giảm chi phí cho doanh nghiệp và họ tiếp tục sử dụng lao động", ông Diệp nói thêm.
Cho nên chính sách bảo hiểm thất nghiệp phải làm sao thể hiện sự gắn kết giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với nhau, giữa những người có trình độ, kỹ năng cao hơn, công việc ổn định hơn với những người có trình độ thấp, công việc bấp bênh hơn. Chính sự gắn kết sẽ làm cho cộng đồng doanh nghiệp mạnh hơn và người lao động cũng được đảm bảo hơn về mặt an sinh.
"Đó là lý do chúng ta cần rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, chuẩn bị cho sửa đổi Luật Việc làm khi thực hiện đề án về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, trong đó có bảo hiểm thất nghiệp".
Đây là việc không dễ vì trước hết phải nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Cần phải chuyên nghiệp hóa và nâng cao trình độ chuyên môn, chất lượng làm việc của cán bộ trung tâm dịch vụ việc làm.
Ngoài ra, cần triển khai sửa đổi một số nghị định liên quan đến hỗ trợ việc làm, rà soát sửa đổi các quy định về mức vay, thủ tục vay, thời hạn cho vay, đối tượng cho vay... để đảm bảo tất cả những người mong muốn tiếp cận với Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đều có thể tiếp cận được, không để ai bị bỏ lại phía sau. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nữa của chúng ta là cố gắng chuyển lao động từ khu vực phi chính thức sang chính thức.




Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề xuất một số định hướng hợp tác trọng tâm giữa hai quốc gia trong thời gian tới như nâng cao chất lượng hợp tác thương mại, đa dạng hóa các mặt hàng xuất nhập khẩu; thúc đẩy đầu tư và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị mới; mở rộng hợp tác trong lĩnh vực khoa học - công nghệ...
Khi những biến động từ bên ngoài tiếp tục tạo áp lực lên hoạt động xuất khẩu, thị trường nội địa ngày càng được xem là điểm tựa quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam. Việc mở rộng kênh phân phối hiện đại, kết hợp đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, đang góp phần tạo thêm động lực cho sức mua trong nước…
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Trước “sức ép kép” từ những hạn chế cấu trúc nội tại và biến động khó lường mang tính toàn cầu, việc định hình giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là động lực then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030...
Mối quan hệ ngoại giao kéo dài hơn 55 năm giữa Việt Nam và Thụy Điển đang chuyển dịch mạnh mẽ sang một giai đoạn mới, được định hình bởi dòng vốn thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Dù bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, các doanh nghiệp Thụy Điển vẫn ghi nhận kết quả hoạt động ổn định và khẳng định cam kết gắn bó lâu dài tại thị trường Việt Nam.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.