
Tại công văn này, Bộ Giao thông vận tải nêu rõ 6 tiêu chí thi đua cụ thể trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông. Trong đó, ba tiêu chí chiếm trọng số điểm lớn nhất gồm: phát triển kết cấu hạ tầng giao thông (28 điểm); huy động nguồn lực (20 điểm); kết quả vận tải hành khách, hàng hóa (22 điểm).
Cụ thể, tiêu chí thi đua đối với cá nhân đó là cá nhân có nhiều công lao, đóng góp, thành tích trong phong trào thi đua thông qua việc tham mưu các biện pháp, giải pháp có hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại hoặc nhiệm vụ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, đơn vị.
Đối với tập thể, Bộ Giao thông vận tải chỉ rõ tiêu chí chung đó là tập thể tiêu biểu có nhiều đóng góp trong phong trào thi đua; có kế hoạch, giải pháp và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...
Về các tiêu chí thi đua cụ thể, khi sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, cấp có thẩm quyền xem xét khen thưởng những tập thể có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ “đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông” theo nội dung đánh giá, chấm điểm từng nhóm tiêu chí.
Thứ nhất, nhóm tiêu chí đánh giá phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
Về phát triển kết cấu hạ tầng địa phương (chiều dài (số km) xây dựng đường tỉnh, đường đô thị; bến cảng thủy nội địa), đánh giá hàng năm theo mục tiêu đặt ra trong quy hoạch giao thông vận tải hoặc trong Nghị quyết của Hội đồng nhân dân hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thông qua.
Trường hợp có Nghị quyết thực hiện hàng năm của Hội đồng nhân dân thì đánh giá theo mục tiêu tại Nghị quyết, trường hợp không có Nghị quyết, đánh giá theo mục tiêu quy hoạch.
Nếu quy hoạch nêu rõ mục tiêu hàng năm thì đánh giá theo các mục tiêu tại quy hoạch; nếu quy hoạch chỉ có mục tiêu trong kỳ quy hoạch (đến năm 2030) thì cụ thể hóa theo kế hoạch hàng năm để đạt mục tiêu đề ra trong quy hoạch, sau đó thực hiện đánh giá theo mục tiêu hàng năm.
Về phát triển giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn, xóm), thực hiện đánh giá tương tự như tiêu chí phát triển kết cấu hạ tầng địa phương.
Về tỷ lệ giải ngân vốn ngân sách nhà nước, đánh giá hàng năm cho các dự án do bộ/ngành/địa phương triển khai.
Thứ hai, nhóm tiêu chí đánh giá huy động nguồn lực.
Về phát triển tổng thể kết cấu hạ tầng giao thông, đánh giá hàng năm cho các dự án do bộ/ngành/địa phương triển khai.
Về huy động nguồn vốn ngoài ngân sách đối với kết cấu hạ tầng giao thông, đánh giá hàng năm cho các dự án do bộ/ngành/địa phương triển khai bao gồm các kết cấu hạ tầng quốc gia, tính trên tổng số dự án triển khai theo phương thức đối tác công - tư (PPP) theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Thứ ba, nhóm tiêu chí đánh giá kết quả vận tải hành khách, hàng hóa.
Chỉ tiêu vận tải hành khách, hàng hóa trên cơ sở mức độ phát triển phù hợp với chiến lược, kế hoạch do bộ/ngành/địa phương xây dựng, ban hành để xác định mức độ tăng trưởng, phát triển sản lượng vận tải hàng năm và mức độ chất lượng dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Về vận tải hành khách công cộng đối với các đô thị đặc biệt, đô thị loại I, tương tự như đánh giá đối với vận tải hành khách, hàng hóa.
Thứ tư, nhóm tiêu chí về chất lượng công trình.
Đánh giá hàng năm, mức độ sự cố theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.
Thứ năm, nhóm tiêu chí đảm bảo tiến độ công trình, đánh giá đối với công trình nhóm B trở lên hoàn thành trong năm đánh giá theo quyết định đầu tư.
Thứ sáu, nhóm tiêu chí phát triển khoa học, công nghệ được đánh giá hàng năm, có văn bản chấp thuận áp dụng của cơ quan có thẩm quyền.
Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng giao thông theo nội dung nói trên, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc chấm điểm từng nhóm theo hướng dẫn.
Bộ Giao thông vận tải cho biết việc đánh giá, chấm điểm thi đua trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông vận tải được thực hiện trên cơ sở so sánh, đối chiếu kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị với các tiêu chí. Điểm trung bình tính theo tỷ lệ % hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đối với những tập thể được giao cả 6 nhóm nhiệm vụ thì điểm tối đa là 100 điểm (hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao) khi hoàn thành đầu tư số km đường tỉnh, số km đường đô thị, số lượng cảng thủy nội địa; phát triển giao thông nông thôn trên 90% mục tiêu kế hoạch năm; giải ngân đạt 100%; tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đạt trên 3,5% GRDP của tỉnh; huy động nguồn vốn ngoài ngân sách trên 50% tổng vốn đầu tư.
Cùng với đó, tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm vận tải hành khách; tăng trưởng trên 10%/năm vận tải hàng; tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng hơn 15%; không để xảy ra sự cố, không xảy ra các vi phạm về an toàn giao thông, an toàn lao động, cháy nổ, vệ sinh môi trường; hoàn thành dự án đúng tiến độ theo quyết định đầu tư, không điều chỉnh tiến độ thực hiện trong quá trình triển khai; có áp dụng công nghệ mới, vật liệu mới lần đầu triển khai tại Việt Nam.
Đối với những tập thể chỉ được giao một hoặc một số nhóm nhiệm vụ thì tính điểm cho từng nhóm, sau đó tổng hợp thành kết quả trung bình (tương đương với tỷ lệ % hoàn thành nhiệm vụ).
Trên cơ sở kết quả trung bình, thực hiện phân thành 4 nhóm.
Theo đó, nhóm A hoàn thành xuất sắc được đánh giá đối với những tập thể được giao 6 nhóm nhiệm vụ với kết quả trung bình đạt trên 93% và không có tiêu chí nào dưới 71%. Đối với những tập thể được giao một hoặc một số nhóm nhiệm vụ, kết quả trung bình đạt trên 95% và không có tiêu chí nào dưới 71%.
Nhóm B hoàn thành tốt, áp dụng đối với những tập thể được giao 6 nhóm nhiệm vụ khi kết quả trung bình đạt trên 80% và không có tiêu chí nào dưới 71%. Đối với những tập thể được giao một hoặc một số nhóm nhiệm vụ: kết quả trung bình đạt trên 83% và không có tiêu chí nào dưới 71%.
Nhóm C hoàn thành khi kết quả trung bình đạt trên 70%. Còn nhóm D chưa hoàn thành khi kết quả trung bình đạt từ 70% trở xuống.
TP. Hồ Chí Minh dự kiến tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2026 đạt 881.297 tỷ đồng, đồng thời bố trí hơn 1,14 triệu tỷ đồng cho kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 từ ngân sách địa phương...
TP. Hồ Chí Minh đang lấy ý kiến thẩm định dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hơn 26.000 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt đô thị số 6 dài gần 23 km, từ Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu...
Nghị định 352/2026/NĐ-CP cho phép triển khai song song một số công việc tại dự án đường sắt, áp dụng thiết kế FEED và thuê tư vấn nước ngoài trong nhiều khâu nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai dự án...
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, GS.Christopher S. Yoo, Trường Luật Carey thuộc Đại học Pennsylvania (Penn Carey Law), cho rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng là những “thách thức tốt”, bởi chúng xuất phát từ một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có nhiều cơ hội.
Theo VIS Rating, ngành xây dựng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhờ các trợ lực từ đầu tư công và sự phục hồi của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, sự gia tăng về chi phí và áp lực tài chính đang tạo ra sự phân hóa tín nhiệm ngày càng sâu sắc giữa các doanh nghiệp trong ngành…
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.