
Luôn khẳng định nợ công vẫn nằm trong giới hạn an toàn, Chính phủ rất ít khi biểu lộ lo lắng về vấn đề này tại các bản báo cáo trình Quốc hội.
Báo cáo gần đây nhất thì khác.
Hoàn thành ngày 24/4/2014, bản báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ký vẫn được một số thành viên của Ủy ban Kinh tế Quốc hội - cơ quan thẩm tra báo cáo - cho là quá lạc quan.
Về tổng thể, có thể là như thế. Nhưng ở từng câu chữ đã thấy rõ hơn những lo lắng.
“Nợ công tuy vẫn nằm trong giới hạn an toàn, nhưng trên thực tế khả năng huy động và trả nợ rất khó khăn”, phần tồn tại hạn chế tại báo cáo nêu rõ.
Nửa năm trước, tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, báo cáo của Chính phủ vẫn có một khẳng định quen thuộc: “Nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn”.
Con số được nêu tại báo cáo khi ấy là, đến cuối năm 2013, dư nợ công ước khoảng 56,2% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 42,6% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 39,5% GDP.
Thế nhưng, hai chữ an toàn dường như chưa mang lại sự an tâm.
Nợ công có lẽ sẽ là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận về an ninh tài chính quốc gia trong năm 2014, bởi con số thực của nợ công là bao nhiêu, đâu là ngưỡng an toàn vẫn là câu hỏi ngỏ.
Nhận định này của một chuyên gia trên VnEconomy
vào ngày cuối cùng của năm 2013 dường như đã được khẳng định chắc chắn hơn, sau bốn tháng đầu năm 2014.
Vào ngày 28/4, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 204 mà theo nhận xét của TS. Lê Đăng Doanh là “một diễn đàn có chất lượng nhất ở Việt Nam hiện nay về tinh thần khoa học, gắn bó với thực tiễn, trung thực, thẳng thắn và xây dựng”, nguy cơ từ nợ công đã lại được đặt ra.
Cùng với nợ xấu, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng quan niệm về nợ công chưa thực sự rõ ràng, còn nhiều điểm khác với quốc tế, số liệu về nợ là đang khác nhau, sai số quá lớn và chuẩn mực đo không thống nhất. Mặt khác, quy mô nợ lớn và xu hướng gia tăng là nhanh.
“Dường như chúng ta có xu hướng đánh giá thấp nguy cơ của nợ công hơn thực tế”, ông Thiên chỉ ra nguy cơ của nguy cơ về nợ công.
Trở lại ba chữ “rất khó khăn” của Bộ trưởng Vinh tại báo cáo sẽ trình Quốc hội. Để nói rõ hơn cho nhận định này, bản báo cáo cung cấp thêm khá nhiều thông tin. Đó là khối lượng huy động vốn trái phiếu Chính phủ rất lớn, bình quân khoảng trên 400 nghìn tỷ đồng/năm trong ba năm tới, bằng khoảng 8-9% GDP, bao gồm huy động để bù đắp bội chi, đảo nợ và để đầu tư. Trong khi việc huy động trong nước chủ yếu là vay ngắn hạn và trung hạn chiếm tới 80%, vay dài hạn chỉ chiếm 20%, dẫn đến tần suất, mức trả nợ sẽ rất cao.
Mặt khác, việc huy động hoàn toàn phụ thuộc vào các định chế tài chính như ngân hàng thương mại chiếm 86%, các định chế tài chính khác chiếm 12%, có thể sẽ dẫn đến việc dòng tiền của hệ thống ngân hàng chỉ tập trung vào trái phiếu mà thu hẹp đầu tư vào sản xuất kinh doanh, Chính phủ nhìn nhận.
Phân tích tiếp theo được báo cáo nêu là trong 2013, lãi suất thị trường ít chịu tác động của việc phát hành trái phiếu Chính phủ do đầu ra tín dụng cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc phát hành lượng trái phiếu Chính phủ quy mô lớn sẽ có nhiều tác động tiêu cực đén mặt bằng lãi suất và chi phí vốn vay của doanh nghiệp, cũng như lạm phát trong năm 2014 và các năm tiếp theo.
Bản báo cáo chứa đựng những kiến giải nêu trên đã đến tay các thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vào chiều 29/4, ở phiên họp toàn thể chuẩn bị báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế - xã hội trình Quốc hội tại kỳ họp tới.
Nhưng, trước đó một ngày, TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia đã nhận định “nợ công không phải nhẹ nhàng như ta hiểu, đặc biệt tỷ lệ nợ phải trả so với thu ngân sách”.
Đại biểu Lịch đề nghị Ủy ban Kinh tế kiến nghị Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 sẽ khai mạc vào ngày 20/5 tới cần có phiên thảo luận riêng để bàn lại về nợ công.
“Không thể cứ nói là an toàn, phải bàn lại xem thực chất nợ công là thế nào, đặc biệt là nợ trung hạn, nếu không khéo khi nợ dài hạn đến hạn trả là không chịu nổi”, ông Lịch nhấn mạnh.
Nội dung thảo luận tập trung vào cơ chế công khai danh mục Nhà nước độc quyền thương mại, kiểm soát giá - chất lượng hàng hóa, đồng thời rà soát kỹ việc bãi bỏ các quy định hợp đồng để tránh tạo khoảng trống pháp lý cho doanh nghiệp...
Theo nhiều đại biểu Quốc hội, thay vì chỉ tập trung vào tổng diện tích sàn hoặc số lượng căn hộ được xây dựng, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; Thay vì cấm sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở, cần nghiên cứu trường hợp ngoại lệ, nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của cư dân…
Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất, không phải bằng số thủ tục hay số đầu mối đã được phân cấp…
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) đã kỷ niệm 50 năm thành lập và vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của UEH, góp phần kiến tạo đội ngũ tri thức, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
“Quan trọng nhất của việc xây dựng luật này chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư và của các thành viên thị trường”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.