Có 485 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng 97% tổng số đại biểu Quốc hội), trong đó có 484 đại biểu tán thành (bằng 96,30% tổng số đại biểu Quốc hội), có 01 đại biểu không biểu quyết (bằng 0,20% tổng số đại biểu Quốc hội).
Với nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 có 6 Phó Thủ tướng, gồm các ông/bà: Phạm Gia Túc, Phan Văn Giang, Phạm Thị Thanh Trà, Hồ Quốc Dũng, Nguyễn Văn Thắng và Lê Tiến Châu.
1. Ông Phạm Gia Túc
Ông Phạm Gia Túc sinh năm 1965; quê quán: tỉnh Ninh Bình; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Quản lý hành chính công; cử nhân Hành chính, cử nhân Kinh tế đối ngoại.
Ông Phạm Gia Túc là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV; Bí thư Trung ương Đảng khóa XIV; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Trong quá trình công tác, ông Phạm Gia Túc đã đảm nhiệm các chức vụ: Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ; Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương; Bí thư Tỉnh ủy Nam Định; Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (từ 8/2025); Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (từ 8/2025).
2. Ông Phan Văn Giang
Ông Phan Văn Giang sinh năm 1960; quê quán: tỉnh Ninh Bình; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Khoa học quân sự.
Ông Phan Văn Giang là: Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, XIV; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng (từ 7/2021), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (từ 4/2021).
3. Bà Phạm Thị Thanh Trà
Bà Phạm Thị Thanh Trà sinh năm 1964; quê quán: tỉnh Nghệ An; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, cử nhân Khoa học Ngữ văn.
Bà Phạm Thị Thanh Trà là Bí thư Trung ương Đảng khóa XIV; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI. Trong quá trình công tác, bà Phạm Thị Thanh Trà đã đảm nhiệm các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái; Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Phó Thủ tướng Chính phủ.
4. Ông Hồ Quốc Dũng
Ông Hồ Quốc Dũng sinh năm 1966; quê quán: Gia Lai; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Luật.
Ông Hồ Quốc Dũng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XII. Trong quá trình công tác, ông Hồ Quốc Dũng đã đảm nhiệm các chức vụ: Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Định; Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai; Phó Thủ tướng Chính phủ.
5. Ông Nguyễn Văn Thắng
Ông Nguyễn Văn Thắng sinh năm 1973; quê quán: thành phố Hà Nội; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Kinh tế; Thạc sĩ Lưu thông tiền tệ; cử nhân kinh tế chuyên ngành Tài chính-Tín dụng.
Ông Nguyễn Văn Thắng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII (dự khuyết), XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV, XVI. Trong quá trình công tác, ông Nguyễn Văn Thắng đã đảm nhiệm các chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh; Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; Bộ trưởng Bộ Tài chính.
6. Ông Lê Tiến Châu
Ông Lê Tiến Châu sinh năm 1969; quê quán: Tây Ninh; trình độ lý luận chính trị: Cao cấp; trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Luật.
Ông Lê Tiến Châu là: Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, XIV; đại biểu Quốc hội khóa XV. Trong quá trình công tác, ông Lê Tiến Châu đã đảm nhiệm các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang; Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Thành ủy Hải Phòng.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), lãnh đạo các nước: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Campuchia, Liên bang Nga, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh đã có điện và thư mừng gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập 1945 là văn kiện có ý nghĩa chính trị và pháp lý, là nền tảng vững chắc để dân tộc ta xây dựng, thực thi chủ quyền toàn diện, trong đó có chủ quyền kinh tế trên các lĩnh vực tài nguyên, tiền tệ, công nghệ, hướng tới một nền kinh tế tự chủ, tự cường.
Sáng 2/9, nghi lễ Thượng cờ được tổ chức trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi cách đây 81 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.